CPTPP: Còn khoảng cách xa giữa "biết" và "hiểu rõ - tận dụng được"

(VLR) Hiệu ứng của Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đối với nền kinh tế là khá tích cực. Song khoảng cách giữa cơ hội tiềm năng và hiện thực là một chặng đường dài khi CPTPP có quá nhiều vấn đề doanh nghiệp cần lưu

Chăn nuôi là ngành chịu ảnh hưởng nặng từ CPTPP

Chăn nuôi là ngành chịu ảnh hưởng nặng từ CPTPP

Các báo cáo đánh giá định lượng về tác động của CPTPP cho thấy Hiệp định mang lại nhiều hiệu ứng khá tích cực tới nền kinh tế. GDP tăng thêm 1,32%. Tác động này có thể sẽ lớn hơn nếu Việt Nam thực hiện đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ theo kịch bản mở cửa dịch vụ (GDP tăng thêm 2,01%). Tương tự như vậy, xuất khẩu có thể tăng thêm 4%, nhập khẩu sẽ tăng thêm ở mức 3,8% - 4,6%.

Hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế

Mức xuất khẩu tăng thêm chủ yếu do tốc độ tăng xuất khẩu với các nước trong CPTPP, trong khi đó mức nhập khẩu tăng thêm lại chủ yếu từ các nước ngoài khối. Theo kết quả này, nếu không có những cải cách đột biến, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ một số nước hiện nay như Trung Quốc, Hàn Quốc ngay cả khi có CPTPP. Điểm này rất đáng chú ý do việc nhập khẩu ngoài CPTPP có thể làm cho Việt Nam không được hưởng lợi nhiều vì quy định nguồn gốc xuất xứ trong CPTPP.

Với một số ngành, phân tích chung cho thấy những ngành thâm dụng nhiều lao động như dệt may, da giày sẽ tiếp tục được hưởng lợi nhiều hơn từ CPTPP. Nhưng với những ngành thâm dụng nhiều vốn, mức tăng trưởng sản lượng là không đáng kể (sản lượng tăng 0,8%, xuất khẩu tăng thêm 1,67%).

Ngành chăn nuôi sẽ bị ảnh hưởng do lợi thế của ngành này kém so với một số đối tác như Australia và New Zealand và mức độ cắt giảm thuế quan so với mức MFN hiện nay là không nhiều. Sản lượng có thể giảm 0,3% và xuất khẩu giảm khoảng 8%. Ngành chế biến thực phẩm cũng bị ảnh hưởng mặc dù không đáng kể, tốc độ tăng trưởng sản lượng bị giảm đi so với việc không có TPP11 ở mức khoảng 0,3 đến 0,5 điểm %.

Nhóm ngành chế tác sử dụng nhiều lao động vẫn có lợi, sản lượng tăng thêm do CPTPP là từ 4% - 5%, và xuất khẩu tăng thêm từ 8,7% - 9,6%. Mở cửa ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành dịch vụ tài chính có thể tác động làm giảm tốc độ tăng trưởng của ngành này, nhưng do có tác động lan tỏa lớn, vẫn có tác dụng kích thích được tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế.

Cơ hội lớn nhất của CPTPP là việc tiếp cận các thị trường xuất khẩu mới ở châu Mỹ cũng như tận dụng mức cam kết mở cửa sâu hơn với các FTA hiện nay. Tham gia CPTPP cũng sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam có năng lực thỏa thuận cao hơn trong trường hợp Mỹ quay lại hoặc dự kiến có một thoả thuận song phương, cũng như khi Việt Nam tham gia vào các FTA khác. Đặc biệt hơn, CPTPP có thể giúp Việt Nam giảm phụ thuộc thương mại (chủ yếu xuất khẩu) vào một số đối tác truyền thống mà sự phụ thuộc đó có thể kéo theo sự phụ thuộc về các lĩnh vực khác. CPTPP với nền tảng là TPP12, cũng sẽ tạo sức ép lớn tới đổi mới thể chế trong nước.

Cam kết về "nguồn gốc xuất xứ" sẽ ảnh hưởng và quyết định rất lớn tới khả năng hiện thực hóa lợi ích từ CPTPP. Khi thỏa thuận các FTA khác, có thể bị yêu cầu phải cam kết ngang bằng TPP11.

Những điểm cần lưu ý

Theo một nghiên cứu của ADB, tỷ lệ tận dụng được ưu đãi thuế quan của FTA với doanh nghiệp Việt Nam hiện đang ở mức (37%), không phải là quá thấp so với trung bình của ASEAN (25%). Tuy nhiên, để tận dụng được lợi ích từ CPTPP cần chú ý một số điểm sau:

Về thông tin về CPTPP, theo một nghiên cứu trước đây, tỷ lệ số doanh nghiệp biết về TPP là khá cao. Điều này là do công tác phổ biến thông tin chung về các hiệp định trong thời gian qua đã khá tốt, tuy nhiên giữa "biết" và "hiểu rõ và tận dụng được" là khoảng cách khá xa. Có hai nguyên nhân dẫn đến khoảng cách này.

Hiện nay về quản lý nhà nước đang thiếu một cơ quan hoặc bộ phận để doanh nghiệp có thể tra cứu các thông tin một cách chi tiết nhất liên quan đến ngành và lĩnh vực sản xuất cụ thể. Thông tin chung có thể có từ nhiều nguồn, nhưng cái doanh nghiệp cần là thông tin chi tiết lại chưa có. Thứ hai là, về phía doanh nghiệp việc thờ ơ với các chính sách vĩ mô hoặc hội nhập cũng không phải không có. Quan sát trong một số hội nghị phổ biến thông tin hội nhập cho thấy số lượng doanh nghiệp đặt câu hỏi hoặc chủ động tìm hiểu thông tin là không cao. Nhiều doanh nghiệp bỏ về giữa chừng.

Về cải thiện năng lực cạnh tranh, đây là một câu chuyện dài và có thể phân chia làm hai nhóm: doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hiện nay và tỷ trọng của doanh nghiệp FDI trong tổng xuất khẩu đang tăng cao (trên 70%) cho thấy đang có hai bức tranh trái ngược. Khu vực FDI sẽ vẫn là những doanh nghiệp được hưởng lợi lớn từ các hiệp định FTA do khả năng cạnh tranh cao hơn. Trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước có thể đối mặt với nhiều thách thức hơn. Thách thức này không hoàn toàn từ hàng hoá nhập khẩu rẻ hơn mà còn cạnh tranh về sử dụng đầu vào, đặc biệt là vấn đề lao động.

Thực tế năng lực cạnh tranh của Việt Nam đang tương đối thấp. Chỉ số năng lực cạnh tranh mặc dù mấy năm gần đây có thay đổi nhưng những chỉ số phụ cốt lõi đối với năng lực cạnh tranh là công nghệ, tính sáng tạo, hạ tầng đều thấp. Những chỉ số này cần rất nhiều thời gian để cải thiện.

Về cải thiện về tỉ lệ xuất xứ hàng hoá, do đặc điểm của cơ cấu kinh tế hiện nay là xuất khẩu kéo theo nhập khẩu, việc cải thiện tỷ lệ xuất xứ thực ra tương đối khó vì hàng nhập khẩu giá rẻ, đặc biệt được hỗ trợ bởi chiến tranh thương mại. Nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu từ các nước không thuộc CPTPP vì vậy sẽ tiếp tục là điểm nghẽn. Vấn đề này chỉ được giải quyết nếu trong thời gian tới thay đổi chiến lượng thu hút FDI để ưu tiên hơn với các dòng FDI sản xuất linh kiện và nguyên liệu hỗ trợ. Ngoài ra, cũng cần có đột phá trong việc khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, trong năm 2019 chưa thấy những dấu hiệu cụ thể nào về vấn đề này.

VnEconomy

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Transimex: Tăng tốc để phát triển vượt bậc

Ngày 10/07/2020 lúc 09:13

Đầu tháng 6 vừa qua, Công ty Cổ phần Transimex (TMS) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên 2020. Theo báo cáo tại Đại hội, dự kiến trong 6 tháng cuối năm 2020, TMS sẽ phát triển vượt bậc. Công ty sẽ “tăng tốc” với nhiều hướng phát triển mới, từ việc tiếp tục nâng cao năng lực các trung tâm logistics cho đến đầu tư ngành nghề kinh doanh mới. TMS kỳ vọng lợi nhuận trước thuế năm 2020 tăng 44% so với năm 2019.

Các mô hình phân phối trong chuỗi cung ứng

3 Giờ trước

Trong chuỗi cung ứng, phân phối là động lực chính tạo ra lợi nhuận tổng thể của chuỗi bởi nó tác động trực tiếp đến chi phí và trải nghiệm khách hàng (KH). Có hai vấn đề cần cân nhắc khi thiết kế mô hình phân phối từ nhà sản xuất (NSX) đến KH cuối cùng, đó là: Sản phẩm được giao đến địa điểm KH yêu cầu hay KH đến mua sản phẩm từ một địa điểm trong mạng lưới; hay sản phẩm có phân phối qua điểm trung gian không? Dựa trên sự kết hợp các phương án cho hai vấn đề trên sẽ tạo ra 6 mô hình phân phối sau đây.

Hiệp hội VARSI kỷ niệm 1 năm thành lập

23 Giờ trước

Ngày 09/7/2020, tại TP. Hồ Chí Minh, Hiệp hội các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (VARSI) đã tổ chức lễ kỷ niệm 1 năm thành lập. Tham dự lễ kỷ niệm có Hội đồng tư vấn, Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra của Hiệp hội và khách mời là các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực đã đồng hành Hiệp hội trong thời gian qua.

Ngành vận tải đường bộ sau đại dịch COVID-19

Ngày 11/07/2020 lúc 08:22

Khả năng dự đoán trước các sự kiện có thể xảy ra, phát triển các chiến lược để giảm thiểu rủi ro và cung cấp khả năng xoay chuyển lựa chọn sẽ là chìa khóa thành công cho ngành vận tải đường bộ trên thị trường hiện nay.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

27°

Mây rải rác

13/07

25° - 31°

Mưa giông

14/07

25° - 31°

Mưa giông

15/07

25° - 31°

Mưa giông

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 12/07/2020 10:53
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
USD23,060.0023,090.0023,270.00
AUD15,678.1415,836.5016,332.91
EUR25,459.1825,716.3426,757.62
GBP28,430.3228,717.4929,617.68
JPY209.20211.31219.20
SGD16,214.1716,377.9516,891.34
THB654.45727.17754.48
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 11/07/2020 23:53
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏa 2-KVND/L1003010230
DO 0,001S-VVND/L1241012650
DO 0,05S-IIVND/L1211012350
E5 RON 92-IIVND/L1425014530
Xăng RON 95-IIIVND/L1497015260
Xăng RON 95-IVVND/L1507015370
Nguồn: Petrolimex
Distribution models in the supply chain

Distribution models in the supply chain

3 Giờ trước

The manufactures store and distribute directlyIn this model, order information will be sent to manufactures through retailers, while products are stored...