Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà nước với logistics cảng biển

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Qua kinh nghiệm của một số quốc gia có dịch vụ logistics cảng biển phát triển, có thể nói tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ này là khá rõ nét, có ý nghĩa quyết định đến quá trình phát triển của logistics cảng biển.

(Vietnam Logistics Review) Qua kinh nghiệm của một số quốc gia có dịch vụ logistics cảng biển phát triển, có thể nói tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực dịch vụ này là khá rõ nét, có ý nghĩa quyết định đến quá trình phát triển của logistics cảng biển.

Những thay đổi và hoàn thiện về mặt kỹ thuật của công tác quản lý nhà nước tạo ra được động lực và hình thành phương cách phát triển mới cho dịch vụ logistics cảng biển, tạo ra thành công cho các quốc gia.

KINH NGHIỆM TẠI Trung quốc (TQ)

Tuy dịch vụ logistics tại TQ chỉ mới phát triển từ những năm cuối thế kỷ 20, nhưng dịch vụ logistics cảng biển đã có những thành công. Những thành công của dịch vụ cảng biển TQ là dựa trên sự đổi mới về công tác quản lý nhà nước. Nhiều văn bản pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển logistics cảng biển đã được nhà nước ban hành một cách đồng bộ và đúng hướng. Mặt khác, sự phát triển của dịch vụ logistics cảng biển còn nhận được sự quan tâm đầu tư của các DN. Từ cuối năm 2005, chính phủ TQ cho phép thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài. Điều này đã tạo điều kiện cho các công ty nước ngoài thâm nhập sâu vào thị trường logistics cảng biển TQ. Ngoài ra, TQ đã tập trung xây dựng và phát triển một cách đồng bộ các thành phần của hệ thống giao thông bao gồm đường bộ, đường sắt, đường không và đường biển có kết nối với các cảng biển. Đồng thời, TQ cũng rất quan tâm xây dựng hệ thống kho bãi và phát triển hệ thống thông tin liên lạc. Có thể nói, kinh doanh dịch vụ logistics cảng biển tại TQ đang phát triển theo chiều sâu, đáp ứng mọi nhu cầu chuyển phát nhanh hàng hóa.

Hơn nữa, sau khi gia nhập WTO, TQ cam kết sẽ là trung tâm phân phối sản phẩm công nghiệp vận tải và kho vận cho các DN nước ngoài. Các công ty nước ngoài cũng cam kết sẽ sử dụng dịch vụ vận tải và kho vận được nhập khẩu từ TQ. Những dịch vụ logistics chủ yếu hiện nay đang được cung cấp tại TQ là dịch vụ vận chuyển đường không và nhất là đường biển. Đến nay, hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3 đã tạo được cho mình chỗ đứng trên thị trường TQ và ngày càng có nhiều công ty loại này tham gia vào dịch vụ logistics cảng biển. Sau khi TQ có chính sách cho phép nước ngoài thành lập công ty 100% vốn nước ngoài thì có rất nhiều công ty đã thâm nhập vào thị trường dịch vụ logistics cảng biển. Các công ty này hoạt động khá thành công trong thị trường dịch vụ logistics cảng biển và đều tập trung đầu tư hệ thống kho bãi rộng và hiện đại, hệ thống trạm phân phối với phạm vi rộng khắp.

Để thực hiện mục tiêu chiến lược của mình, TQ đã đầu tư rất nhiều để xây dựng các trung tâm dịch vụ logistics quốc tế và cảng biển tại các vị trí chiến lược. Nhờ có sự điều tiết lưu thông hàng hóa theo đúng định hướng phát triển kinh tế - xã hội, TQ đã có điều kiện phát triển được hệ thống cảng biển. Theo danh sách các cảng container hàng đầu thế giới thì có 7/9 cảng hàng đầu thế giới hiện nay là ở TQ. Với sự phát triển vượt bậc về kinh tế, nhu cầu về dịch vụ logistics cảng biển tại TQ không ngừng tăng lên và dịch vụ này vẫn phát triển mạnh mẽ chứng tỏ công tác quản lý nhà nước tại TQ đối với dịch vụ logistics cảng biển đã đi đúng hướng.

KINH NGHIỆM TẠI NHẬT BẢN

Trong quá trình phát triển, chính phủ Nhật rất quan tâm công tác đổi mới quản lý nhà nước đối với dịch vụ logistics, nhất là dịch vụ logistics cảng biển. Chính phủ này đã thực hiện điều này bằng cách sửa đổi những đường lối, chính sách phát triển với mục tiêu là hỗ trợ cho công cuộc cải cách cơ cấu thị trường dịch vụ logistics và dịch vụ logistics cảng biển. Ưu tiên đầu tiên là làm cho hệ thống phân phối hiệu quả và chính xác nhằm nâng cao tính cạnh tranh của hệ thống cảng biển. Nhằm đổi mới việc quản lý dịch vụ logistics, Nhật Bản đã chú trọng hai chiến lược
phát triển:

1. Tập trung hợp lý hóa dịch vụ logistics ở các cảng biển. Từ những năm 1960, Nhật đã tập trung xây dựng và phát triển các kho bãi hậu cần quanh các thành phố cảng lớn và gần các điểm chốt GTVT. Các bãi kho vận hậu cần đều quan tâm đến việc hợp lý hóa các dịch vụ logistics của các thành phố cảng. Bốn trung tâm kho vận hậu cần tại thành phố Tokyo đã tạo thành một mạng lưới giao thông quanh thành phố và liên kết tới thành phố cảng Yokohama tạo thành mạng lưới cung cấp dịch vụ logistics rộng khắp.

2. Chỉ đạo trực tiếp và dẫn dắt việc phát triển dịch vụ logistics cảng biển. Chính phủ giữ vai trò quan trọng trong xây dựng các kho hậu cần và coi việc phát triển dịch vụ logistics cảng biển như là một cách để nâng cao vị thế quốc gia. Chính phủ đóng vai trò chính trong việc duy trì hoạt động của hệ thống cảng biển quốc gia và mọi quyết định về cảng đều do chính phủ đưa ra.

Mặt khác, chính phủ Nhật rất chú trọng đến hiệu quả và công tác kiểm soát vĩ mô đối với hoạt động cảng biển:

Lĩnh vực thứ nhất, đặc biệt chú ý là việc lập quy hoạch. Chính phủ đã sắp xếp kế hoạch phát triển các kho hậu cần và các thiết bị trong dịch vụ logistics cảng biển sao cho có những vị trí thích hợp ở gần các khu liền kề thành phố, cạnh các tuyến giao thông nội bộ và các đường giao thông huyết mạch chính nối liền các thành phố cảng để xây dựng các kho hậu cần. Các kho chứa hàng được xây dựng ở gần các cảng biển lớn của đất nước với hệ thống GTVT thông suốt. Hệ thống kho bãi cung cấp rất nhiều dịch vụ chức năng như kho làm lạnh, kho giữ ấm và hàng loạt các dịch vụ bảo quản khác.

Lĩnh vực thứ hai, là hoàn thiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ và khuyến khích phát triển lĩnh vực dịch vụ logistics cảng biển. Bằng cách hoàn thiện hệ thống đường sá, nâng cấp hệ thống giao thông đường sông, đường biển và phát triển hệ thống GTVT liên kết, Chính phủ Nhật ban hành hàng loạt chính sách khuyến khích như giảm một số sự điều chỉnh, thành lập những tổ chức liên kết và cung cấp sự trợ giúp. Chính phủ Nhật thực hiện việc bán đất với giá thấp để xây dựng các kho hậu cần. Do đó, nhiều công ty tư nhân đã vay tiền ngân hàng để xây dựng các kho bãi hậu cần. Ngoài ra, Nhật còn dành một khoản cho vay ưu đãi cho các công ty tư nhân vay, giúp họ hoàn thiện hệ thống kho bãi hậu cần.

Lĩnh vực thứ ba, trực tiếp đầu tư lớn cho việc xây dựng các kho hậu cần cảng biển. Vào năm 1997, Chính phủ Nhật đã soạn thảo đề cương về kế hoạch quản lý hoàn chỉnh đối với dịch vụ logistics, dành một khoản vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng cho dịch vụ logistics bao gồm đường bộ, đường sắt, đường không và các cầu cảng.

Hiện tại Nhật Bản đã có được một hệ thống dịch vụ logistics cảng biển được quy hoạch trên toàn bộ lãnh thổ. Hệ thống đường cao tốc đã được hoàn chỉnh trên cả 4 đảo lớn của Nhật Bản nối liền các cảng biển lớn. Tất cả các đảo đều được nối liền bởi các cầu và đường hầm xuyên biển, làm tăng sự kết nối giữa các cảng biển. Tính hiệu quả của hệ thống cảng biển của Nhật Bản đã vượt qua tất cả các nước khác và trở thành nước cung cấp dịch vụ cảng biển hàng đầu trên thế giới.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Đón tàu mẹ lớn nhất khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc

Ngày 18/04/2019 lúc 08:44

Ngày 17/04/2019, Cảng Container Quốc Tế Hải Phòng (HICT) thuộc Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn đón chuyến tàu mẹ Nagoya Express sức chở 8.600 TEU xuyên Thái Bình Dương đi trực tiếp Hoa Kỳ và Canada. Đây là chuyến tàu mẹ lớn nhất đầu tiên cập cảng phía Bắc.

VINASA công bố giải pháp/sản phẩm đạt danh hiệu Sao Khuê 2019

1 Giờ trước

Ngày 21/04/2019, Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) công bố giải pháp/sản phẩm đạt danh hiệu Sao Khuê 2019 – Danh hiệu uy tín nhất và danh giá của ngành phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) Việt Nam, được cộng đồng doanh nghiệp và thị trường CNTT Việt Nam tin dùng và đánh giá cao.

Hạn mức giao dịch ví điện tử cá nhân không quá 20 triệu đồng/ ngày

1 Giờ trước

Đó là một trong những điểm nổi bật được nêu trong dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39 hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán đang được Ngân hàng Nhà nước đưa ra lấy ý kiến.

2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh

1 Giờ trước

Năm 2018, tỉnh Quảng Di sản thế giới mới chỉ hút 12 triệu khách tham quanQuảng Ninh với vị trí địa lý sơn thuỷ hữu tình đã tạo nên một "kỳ quan đá dựng giữa trời cao" - Vịnh Hạ Long (trích Nguyễn Trãi). Tuy nhiên, di sản thiên nhiên thế giới này hiện mới chỉ hấp dẫn trên 12,2 triệu lượt khách đến tham quan năm 2018.Tại hội thảo “ Du lịch Quảng Ninh – Vươn tầm di sản” tổ chức tại Trung tâm hội nghị quốc tế - Quần thể nghỉ dưỡng FLC Hạ Long, ngày 19/4, ông Nguyễn Đức Long, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết Quảng Ninh được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh với các địa điểm du lịch, di tích quốc gia, biển đảo, bãi tắm du lịch nổi tiếng. Tỉnh đã có hệ thống hạ tầng hiện đại, các đường cao tốc từ Hải Phòng - Hạ Long kết nối đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, có đường cao tốc đi sân bay quốc tế Vân Đồn và đang khởi công xây dựng đường cao tốc từ Vân Đồn đến Móng Cái.Ngành Du lịch Quảng Ninh trong năm 2018 đã đón 12,2 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 5,2 triệu lượt. Tổng thu đạt trên 24.000 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ, thu ngân sách tăng 31% so với cùng kỳ. Các khách sạn, dịch vụ, sản phẩm mới được ra đời. Nhận thức về du lịch của cộng đồng người dân cao hơn.2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh - Ảnh 1.Nguồn: Tổng cục Du lịch, UBND tỉnh Quảng Ninh.So với lượng khách du lịch trên cả nước trong năm 2018 là 95,5 triệu lượt, tỷ trọng khách duc lịch đến Quảng Ninh mới chỉ chiếm 12,77%, tương ứng 12,2 triệu lượt. Trong đó, khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh đạt 5,5 triệu lượt, chiếm tỷ trọng 35,48% trong tổng lượng khách quốc tế cả nước. Khách trong nước đến Quảng Ninh cũng chỉ chiếm 8,38%.Tuy nhiên, tỷ trọng khách quốc tế đạt 5,5 triệu lượt (46%) đang áp đảo so với khách nội địa 6,7 triệu lượt (54%) trong tổng lượng khách đến Quảng Ninh.Theo ông Nguyễn Đức Long, tỉnh Quảng Ninh đã đặt ra mục tiêu đưa du lịch thành ngành mũi nhọn với hệ thống hạ tầng hiện đại, trở thành một trong những đầu tàu để phát triển kinh tế. Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 15 -16 triệu lượt khách trong đó có 7 triệu lượt khách quốc tế. Đến năm 2030, đặt mục tiêu đạt 30 triệu lượt trong đó khách quốc tế đạt 15 triệu lượt.Năm 2018, du lịch đóng góp 9% GDP. Tỉnh phấn đấu đến năm 2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP, tạo 100.000 việc làm trực tiếp và gián tiếp. Việc nâng cao nhận thức về phát triển du lịch để du lịch không chỉ là của cộng đồng doanh nghiệp mà cả của người dân địa phương trên toàn địa bàn tỉnh.Di sản quốc tế - Chất lượng nhân sự phải quốc tếTheo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, Quảng Ninh như một Việt Nam thu nhỏ, là vùng đất có sự đa dạng văn hóa gắn với đặc sắc 22 thành phần dân tộc chiếm gần một nửa trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, có di sản văn hóa tâm linh Yên Tử và kì quan thế giới Vịnh Hạ Long. Philip Kotler, cha đẻ marketing thế giới đã từng đặt câu hỏi tại sao Việt Nam không trở thành “bếp ăn của thế giới”, ý là tại sao không trở thành điểm đến hàng đầu của thế giới. Vậy chúng ta lại đặt câu hỏi, tại sao Quảng Ninh không trở thành điểm đến hàng đầu của Việt Nam và tiến tới của cả thế giới? Để làm được điều này, mỗi người dân có thể trở thành một đại sứ du lịch.Quảng Ninh đặt mục tiêu vươn ra thế giới nhưng vẫn phải giữ gìn vè đẹp hoang sơ của thiên nhiên. Yếu tố đảm bảo thành công là xây dựng được mối liên kết phát triển giữa các tỉnh. Các tỉnh cần ngồi lại với nhau để xây dựng chiến lược tổng thể trong cả khu vực.“Ở đây tôi cũng muốn nói đến sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Tập đoàn FLC, Vin, Sungroup, những đóng góp của họ góp phần tạo nên câu chuyện cổ tích của Quảng Ninh”, ông Lộc nhấn mạnh.Còn theo ông Phạm Ngọc Thủy, Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, trong thời gian gần đây, khách du lịch đến với Quảng Ninh mới biết đến một số địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Yên Tử... Tuy nhiên, thực tế Quảng Ninh còn có 600 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 5 di tích quốc gia đặc biệt, 3 di tích cấp quốc gia, 8 di tích cấp tỉnh. Có thể thấy, Quảng Ninh được thiên nhiên ưu ái ban cho điều kiện tự nhiên, văn hóa làm tiền đề phát triển du lịch.Từ 30/12/2018, tỉnh Quảng Ninh đã đưa vào khai thác cảng tàu du lịch, cảng đã đón gần 50 chuyến tàu, Vân Đồn cũng đón gần 50.000 người. Kết nối phát triển du lịch phải nằm trong kết nối với các địa phương cả nước và nước ngoài. Các tour lữ hành sẽ có điều kiện phát triển hơn, mở ra hội nhập quốc tế.Các tập đoàn kinh tế đã tạo ra bộ mặt du lịch khang trang hơn, hạ tầng du lịch đều đạt đẳng cấp quốc tế đóng góp mạnh vào phát triển tỉnh. Tuy nhiên, Quảng Ninh chưa có đường hàng không nên kết nối khó khăn. Đã có rất nhiều hãng hàng không đã đặt vấn đề với tỉnh để kết nối các địa bàn trong nước và nước ngoài tạo thành vòng cung khép kín, tiết kiệm thời gian đi lại cho khách du lịch.Muốn khách du lịch đến và ở lại dài ngày chúng ta phải mở rộng không gian du lịch. Cũng đã có các tập đoàn kinh tế lớn đặt hạ tầng tại các địa điểm như Quan Lạn, Cô Tô, Vân Đồn… Nhưng nếu không gian du lịch không được mở rộng sẽ không kéo được khách du lịch mà còn dẫn đến sự quá tải cục bộ.“Để phát triển du lịch đẳng cấp quốc tế, ngoài hạ tầng tốt cần có nguồn nhân lực cao và đẳng cấp quốc tế. Không chỉ là việc đào tạo nhân lực cấp cao mà cả nhân lực cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân, vì du lịch liên quan đến văn hóa, ông Thuỷ nói.Đồng tình quan điểm này, ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hiệp hội các tổ chức dịch vụ và phát triển kinh doanh Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn FLC, cho rằng nhân lực du lịch của Quảng Ninh còn thiếu và yếu, trong một năm chúng tôi có thể xây khách sạn 1-2 nghìn phòng, cần 3 nghìn lao động, thế nhưng lao động lấy ở đâu? Hay như ở Thanh Hóa, chúng tôi được cấp phép 5 sao cho hạ tầng nhưng nhân lực nói thực mới chỉ 3 sao đổ lại.Quảng Ninh cần mở các khóa đào tạo, cần mời chuyên gia về đào tạo của Việt Nam để đào tạo nhân lực 5 sao để thu tiền được 5 sao, chứ không chỉ thu tiền được 3 sao. đón 12,2 triệu lượt khách đến tham quan, chiếm tỷ lệ gần 13% tổng lượng khách du lịch cả nước.

Đăng ký bán hàng trên Amazon: Cơ hội “lên sàn” cho những doanh nghiệp uy tín

1 Giờ trước

Bộ Công Thương Việt Nam và Amazon mới đây đã thống nhất Chương trình hợp tác trong 3 năm (2019 - 2021) với việc hỗ trợ DN Việt xuất khẩu toàn cầu.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

29°

Mây rải rác

23/04

28° - 36°

Nắng ấm

24/04

28° - 37°

Nhiều mây

25/04

28° - 38°

Nhiều mây

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 22/04/2019 09:55
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,386.4416,485.3516,665.39
EUR25,891.3025,969.2126,617.90
GBP29,802.0130,012.0930,279.24
JPY202.11204.15210.55
SGD16,907.4417,026.6317,212.58
THB714.43714.43744.23
USD23,155.0023,155.0023,255.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 21/04/2019 23:55
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1626016580
DO 0,001S-VVND/L1768018030
DO 0,05S-IIVND/L1738017720
E5 RON 92-IIVND/L1970020090
Xăng RON 95-IIIVND/L2123021650
Xăng RON 95-IVVND/L2138021800
Nguồn: Petrolimex