Quản lý dự trữ nhiều sản phẩm

(VLR) Quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đã làm thay đổi lý thuyết dự trữ rất nhiều. Điều này xảy ra vào ngay đầu thế kỉ XXI.

Quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đã làm thay đổi lý thuyết dự trữ rất nhiều. Điều này xảy ra vào ngay đầu thế kỉ XXI.

Các mô hình mà chúng tôi đã giới thiệu trong các bài báo trước là những mô hình quản lý dự trữ một loại sản phẩm. Các mô hình này có thể là: mô hình EOQ, các mô hình tất định và các mô hình ngẫu nhiên. Việc nghiên cứu các mô hình này là rất quan trọng và nó giúp ta đi vào bản chất của việc quản lý dự trữ. Chúng ta có thể hệ thống hóa lại như sau;

Từ gốc là mô hình EOQ, khi xem xét có thể chia làm hai nhánh: là các mô hình tất định (các thong số tham gia là tất định) và mô hình ngẫu nhiên (khi có ít nhất một thông số mang tính ngẫu nhiên). Khi khảo sát các mô hình này chúng ta đều có thể xem xét hai trường hợp là xem xét theo chu kì và xem xét liên tục. Điều lưu ý là các mô hình trên chỉ xét với một loại sản phẩm. Chúng ta cũng có thể nhận thấy các hạn chế của các mô hình này, khi mà thực tế luôn biến động thì mô hình tất định khó đáp ứng được. Tuy nhiên khi khảo sát theo các quy luật ngẫu nhiên thì cũng tồn tại những hạn chế vì hai lý do: hoặc là chúng ta chưa có đủ số lượng mẫu thống kê nên xác định quy luật chưa chính xác, hoặc là kết quả tính toán rất khó cho việc thực hiện. Vì vậy người ta đã phải thường xuyên xem xét lại, hoặc là xem xét lại khoảng thời gian giữa hai lần cung ứng, hoặc là xem xét lại khối lương cung ứng.

Trong bài báo này chúng tôi giới thiệu một số vấn đề tổng quát về quản lý dự trữ nhiều loại sản phẩm.

Khi phải quản lý nhiều loại sản phẩm, thông thường người ta phân chúng thành 3 loại A, B và C theo tầm quan trọng của nó… Trong đó hàng hóa loại A là rất quan trọng, loại B là trung bình và loại C là ít quan trọng hơn. Sự phân loại này cũng chỉ tương đối theo từng tình huống. Thí một mặt hàng loại C của kì phân tích trước, vì còn nhiều dự trữ, nhưng trong kì này trở thành loại A vì đã hết dự trữ… Cách phân chia này được gọi là phương pháp quản lý ABC. Đối với người quản lý cần phải nhận biết được sự tương tác giữa các loại sản phẩm đồng thời cũng còn chịu sự hạn chế về mặt ngân sách gây nên. Các mô hình quản lý nhiều loại sản phẩm được xây dựng theo những ràng buộc này.

Cũng cần phải nói là không có một mô hình nào thỏa mãn cả mặt lý thuyết cũng như thực hành áp dụng. Những mô hình tốt về mặt lý thuyết thì lại khó áp dụng, và để có thể áp dụng, phải đơn giản hóa phần nào đi, nghĩa là về mặt lý thuyết bị yếu đi. Trong thực tế hiện nay có hai dạng hệ thống quản lý dự trữ được áp dụng tương đối thành công là hệ thống quản lý dự trữ đa cấp (multiechelon inventory management) và hệ thống quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management).

QUẢN LÝ DỰ TRỮ ĐA CẤP

Ta biết rằng dự trữ (hàng hóa) đầu tiên được dự trữ tại một hay nhiều nhà máy sản xuất ra chúng, ta gọi là dự trữ cấp 1. Sau đó chúng được phân phối đến các kho dự trữ khu vực hoặc quốc gia (cấp 2), rồi sau đó đấn các trung tâm phân phối ra thị trường (cấp 3),... Một hệ thống quản lý dự trữ với các cấp như trên được gọi là hệ thống quản lý đa cấp.

Trong hệ thống quản lý này chúng ta thấy dự trữ ở một cấp nào đó phụ thuộc vào nhu cầu của cấp cao hơn, và dự trữ này lại phụ thuộc vào khả năng cung cấp tiếp theo của cấp dưới. Trường hợp hàng hóa xuất phát từ nhà sản xuất cho đến người bán lẻ thì các cấp tăng dần lên tới cấp cuối cùng là người bán lẻ. Dự trữ hiện tại của một cấp nào đó là khả năng cung ứng làm thỏa mãn cho cấp tiếp theo, do vậy cần phải quy hoạch hệ thống kho cho các cấp sao cho đảm bảo sự thỏa mãn này.

Một trong những hệ thống quản lý dự trữ đa cấp rất thành công là hệ thống của IBM.

Công ty IBM hiện nay cung cấp gần 1.000 các loại sản phẩm, họ sử dụng tới 15.000 kĩ sư cho việc bảo trì và sửa chữa các hệ thống máy tính mà IBM cung cấp. Vì vậy IBM phải duy trì một hệ thống khổng lồ quản lý dự trữ các linh, phụ kiện. Hệ thống này kiểm soát trên 200.000 linh kiện, với tổng trị giá nhiều tỷ USD. Hàng năm có tới nhiều triệu linh kiện được sử dụng.

Cấp đầu tiên của hệ thống là các nhà máy sản xuất ra linh kiện, sau đó (cấp 2) là các kho tại các khu vực (có thể là một quốc gia), tiếp theo là các trung tâm phân phối, các kho, và cuối cùng là nhiều ngàn điểm cuối. Để có thể kiểm soát và quản lý một hệ thống đa cấp khổng lồ như vậy IBM đã dung hệ thống máy tính gọi là Optimizer. Optimizer có 4 mô-đun chính: mô-đun dự báo, mô-đun quản trị dữ liệu, mô-đun ra quyết định, và mô-đun để tích hợp Optimizer vào Hệ thống quản lý dự trữ phụ tùng linh kiện của IBM.

Mô-đun dự báo có một số chương trình nhắm ước lượng sự tiêu hao của từng loại sản phẩm.

Mô-đun quản trị dữ liệu chứa khoảng 100 chương trình xử lý trên 15 gigabit dữ liệu cần thiết để nhập vào Optimizer.

Mô-đun ra quyết định sẽ tối ưu hóa việc kiểm soát dự trữ hàng tuần. Các quyết định được đưa ra dựa trên các mô hình quản lý dự trữ tối ưu và chính sách về quản lý dự trữ của công ty. Vấn đề này chúng tôi đã giới thiệu trong bài báo giới thiệu việc áp dụng vận trù học trong quản lý dự trữ.

Mô-đun thứ tư gồm 6 chương trình để tích hợp Optimizer vào hệ thống quản lý dự trữ linh kiện của IBM (Parts Inventory Management System-PIMS). PIMS là một hệ thống kiểm soát và thông tin tinh vi chứa hàng triệu đường truyền.

Optimizer từng loại linh kiện ở từng cấp, và tính toán theo chính sách R&Q của công ty ở mọi cấp. Chính sách R&Q là quy định khi nào thì yêu cầu cung cấp (reorder-R) và khối lượng cung cấp là bao nhiêu (Order Quantity-Q). Như vậy là IBM đã phải thiết kế một hệ thống lớn và hết sức phức tạp đẩy quản lý dự trữ. Nhưng để áp dụng hệ thống này một cách thành công là một vấn đề hết sức linh hoạt và phức tạp. Theo các tác giả M. Cohen, P.V. Kamesam, P. Kleindorfer và A. Tekerian trong Optimize: IBM’s Multi-echelon Inventory System for Managing Service Logistics (Interface, 20, Jan-Feb, 1990) có 3 nhân tố giúp IBM vận dụng thành công hệ thống là:

•Ý kiến của đội ngũ người sử dụng, bao gồm các người quản lý nghiệp vụ như là các cố vấn khi nghiên cứu thiết kế và sau đó là những người nhiệt tình ủng hộ hệ thống khi áp dụng. hệ thống vào lĩnh vực mình phụ trách.

•Thử nghiệm để chấp nhận của người sử dụng khi mà người sử dụng phát hiện ra các vấn đề cần sửa chữa trước khi áp dụng toàn bộ hệ thống.

•Triển khai hệ thống từng bước, mỗi bước được thử nghiệm cẩn thận để loại trừ mọi lỗi.

QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

Ta biết rằng chuỗi cung ứng là một mạng lưới bao trùm từ sản xuất đến tiêu thụ, trong đó quản lý dự trữ là chìa khóa để vận hành chuỗi. Người ta cho rằng sự phát triển quản trị chuỗi cung ứng là một bước phát triển của quản lý đa cấp.

Ngày nay quản trị chuỗi cung ứng phát triển thành một ngành, được nghiên cứu và áp dụng sâu rộng, vì vậy chúng tôi không giới thiệu chi tiết trong bài báo này.
Việc áp dụng quản trị chuỗi cung ứng trong quản lý dự trữ đã được nhiều công ty thực hiện, phát triển. Những kinh nghiệm của họ đã đóng góp rất nhiều vào sự phát triển của quản trị chuỗi cung ứng. Một trong những công ty áp dụng và phát triển thành công trong lĩnh vực này là Hewlett-Packard mà chúng tôi đã giới thiệu tyrong bài báo trước.

Cuối cùng chúng ta nhận thấy vai trò to lớn của máy tính trong lĩnh vực này. Nếu không có máy tính để xử lý dữ liệu chắc chắn không thể thực hiện được công việc này một cách hiệu quả.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Container “nằm lì” ở cảng: Tiêu tốn hàng triệu USD di dời

Ngày 11/12/2019 lúc 08:46

Nhiều container tồn đọng tại các cảng biển khiến các doanh nghiệp (DN) khai thác cảng thiệt hại hàng triệu USD do phải tự bỏ kinh phí di dời, xử lý. Các cảng biển đang cần một cơ chế xử lí container tồn đọng một cách triệt để hơn.

WTO kéo dài lệnh cấm áp thuế thương mại điện tử sang năm 2020

Ngày 11/12/2019 lúc 08:29

Ngày 10/12, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã nhất trí kéo dài thời gian cấm áp thuế thương mại điện tử thêm 6 tháng.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sắp vượt mốc 500 tỷ USD

14 Giờ trước

Số liệu mới nhất từ Tổng cục Hải quan cho thấy, 11 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 472 tỷ USD.

Công ty ICM COM Nhật Bản và Tạp chí VLR gặp gỡ, bàn hợp tác kinh doanh

14 Giờ trước

Ngày 12/12/2019, tại Tòa soạn Tạp chí Vietnam Logistics Review, ông Lê Ngọc Ánh Minh - Trưởng Ban Quan hệ Quốc tế và các đại diện của Ban đã có buổi làm việc, họp bàn hợp tác kinh doanh với ông Takeaki Uchida, Tổng Giám đốc, Đại diện pháp luật của Công ty Truyền Thông Tiếp thị & Năng lượng sạch ICM COM Nhật Bản.

Không cần thiết giảm thuế ô tô nguyên chiếc trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi chung

14 Giờ trước

Tiếp tục gửi xin ý kiến các bộ, ngành về việc sửa đổi, bổ sung Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi, Bộ Tài chính dự kiến giữ nguyên thuế suất các mã hàng ô tô nguyên chiếc chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống thuộc nhóm 87.03.

Sôi động việc làm Tết

14 Giờ trước

Nhu cầu tuyển dụng lao động thời vụ tại TP HCM dịp cuối năm tăng đột biến với đa dạng ngành nghề

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

32°

Mây rải rác

14/12

23° - 34°

Chủ yếu trời trong

15/12

24° - 34°

Chủ yếu trời trong

16/12

23° - 34°

Mây rải rác

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 13/12/2019 21:52
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD15,800.8315,896.2116,166.55
EUR25,681.5325,758.8126,532.46
GBP30,893.1731,110.9531,387.92
JPY206.48208.57214.68
SGD16,925.6417,044.9517,231.13
THB752.85752.85784.25
USD23,110.0023,110.0023,230.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 13/12/2019 11:52
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1496015250
DO 0,001S-VVND/L1628016600
DO 0,05S-IIVND/L1598016290
E5 RON 92-IIVND/L1981020200
Xăng RON 95-IIIVND/L2107021490
Xăng RON 95-IVVND/L2117021590
Nguồn: Petrolimex