/

Mô hình thuê ngoài tại doanh nghiệp (Kỳ cuối)

(VLR) Rõ ràng là bài toán thuê ngoài không thể dừng lại ở những đánh giá về chi phí, để đưa ra quyết định make or buy cho các hoạt động logistics, DN cần so sánh tầm quan trọng và năng lực thực hiện hoạt động logistics của mình với khả năng cung ứng các dịch vụ từ phía các nhà cung ứng. Tùy theo quy mô và độ phức tạp hoạt động, DN có thể sử dụng để đạt được mục tiêu này.

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LỰA CHỌN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS ĐỂ THUÊ NGOÀI

Rõ ràng là bài toán thuê ngoài không thể dừng lại ở những đánh giá về chi phí, để đưa ra quyết định make or buy cho các hoạt động logistics, DN cần so sánh tầm quan trọng và năng lực thực hiện hoạt động logistics của mình với khả năng cung ứng các dịch vụ từ phía các nhà cung ứng. Tùy theo quy mô và độ phức tạp hoạt động, DN có thể sử dụng để đạt được mục tiêu này.

Mô hình 1: Sử dụng giản đồ hai chiều thể hiện mức độ cạnh tranh và tầm quan trọng của hoạt động logistics

Tầm quan trọng thể hiện mức độ phức tạp của công việc. Tầm quan trọng cao là những hoạt động chuyên biệt mà công ty phải tự làm, chỉ thuê ngoài trong trường hợp đặc biệt. Tầm quan trọng thấp là những hoạt động mang tính trợ giúp cho quá trình kinh doanh được thông suốt, có thể outsourcing dễ dàng.

Mức độ cạnh tranh cho thấy cho thấy ưu thế về dịch vụ (chi phí/chất lượng) của hoạt động logistics nội bộ so với dịch vụ thuê ngoài.

Các hoạt động logistics sẽ được đánh giá và xếp vào các vị trí trong giản đồ, các vị trí trong 4 ô này sẽ chỉ ra những cơ hội sau:

Các hoạt động trong ô số 1 có tầm quan trọng cao, mức độ cạnh tranh thấp, có thể thuê ngoài nhưng đây là hoạt động thuộc về năng lực cốt lõi, rất quan trọng với công ty, đòi hỏi phải bảo mật và phối hợp tốt. Thuộc ô số 2 là những hoạt động có tầm quan trọng cao và mức độ cạnh tranh cao cần phải tự thực hiện. Ô số 3 có tầm quan trọng và mức độ cạnh tranh đều thấp là các hoạt động nên thuê ngoài. Ô số 4 có tầm quan trọng thấp nhưng mức độ cạnh tranh cao về cơ bản không nên thuê ngoài, chỉ thuê ngoài khi chúng trực tiếp tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Phương pháp này cho phép so sánh hoạt động logistics không chỉ qua ưu thế chi phí mà cả ở ưu thế về dịch vụ. Đồng thời, mức độ quan trọng còn cho biết mối quan hệ của nó với quá trình kinh doanh chính. Hạn chế cơ bản của cách đánh giá này thiên về định tính hơn là định lượng, do đó độ chính xác không cao, nhưng có thể sử dụng nhanh chóng cho hầu hết các DN.

Mô hình 2: Thường áp dụng cho các dự án thuê ngoài quy mô lớn, thời gian kéo dài từ 1-3 năm. Đòi hỏi các hoạt động thuê ngoài phải được đánh giá thận trọng và chính xác hơn.

(1) Lập nhóm phát triển dự án thuê ngoài. Bao gồm những cá nhân có khả năng phân tích và đánh giá chính xác các hoạt động chức năng tại DN. Họ thường là các nhà quản trị điều hành có vị trí quan trọng như các trưởng phòng kinh doanh, marketing, tổ chức và tài chính. Những thành viên có khả năng nhìn nhận, phân tích và lượng hóa chính xác các dữ liệu và thông tin cần thiết cho một dự án thuê ngoài. Họ cũng có đủ quyền lực để liên kết phối hợp và ra quyết định nhanh chóng trong các quá trình thực hiện dự án thuê ngoài.

(2) Phân chia các hoạt động logistics theo đặc điểm kinh doanh của DN. Bước này liên quan đến việc kiểm soát, lập sơ đồ và phân loại các quá trình hoạt động kinh doanh trong công ty. Để phân tích, cần xác lập các chức năng cơ bản ở cấp cao nhất của công ty. Tiếp theo, phân chia các chức năng thành các hoạt động là tập hợp của một số nhiệm vụ nhất định. Để phân tích chính xác, cần thiết phải làm việc với các cá nhân trong từng bộ phận có liên quan do đó sự tham gia của giám đốc nhân sự trong nhóm dự án thuê ngoài là rất hữu ích.

(3) Xác định chi phí và đo lường năng suất các hoạt động logistics. Bước này phải kiểm soát các hoạt động logistics một cách chi tiết để nắm được chi phí cho từng khâu, để chính xác cần theo dõi và thống kê mọi phí tổn cần thiết (gồm cả nguồn nhân lực) sử dụng cho việc thực hiện các chức năng và hoạt động logistics đã phân tích. Bên cạnh đó, làm việc với phòng quản lý nhân sự để xác định các nhiệm vụ của từng cá nhân, nắm chắc các số liệu và tình hình về năng suất lao động cũng như số lượng các nhân viên trong từng công việc. Năng suất sẽ được đánh giá so với các tiêu chuẩn ngành, nếu không có sẵn các tiêu chuẩn này các đo lường về chất lượng sẽ được sử dụng để phân loại các hoạt động theo các giới hạn khác nhau.

(4) Đánh giá tầm quan trọng của các hoạt động logistics, phân định những hoạt động cốt lõi và không cốt lõi.

Năng lực cốt lõi (core competency) được hiểu là năng lực của tất cả những hoạt động có thể làm tăng giá trị cổ phiếu của công ty. Một hoạt động gắn liền với năng lực cốt lõi có 3 đặc trưng cơ bản là làm tăng lợi ích nhận thức của khách hàng; Đối thủ cạnh tranh khó bắt chước; Giúp thúc đẩy và mở rộng thị trường. Có thể nhận ra năng lực cạnh tranh qua các dấu hiệu như là nguồn lực có giá trị cao, khan hiếm, khó bắt chước và khó có khả năng thay thế. Các đặc trưng và dấu hiệu trên sẽ giúp phân loại các hoạt động và quá trình logistics theo tầm quan trọng gắn với năng lực cốt lõi thành ba mức độ.

Các chức năng thiết yếu (Critical funtion) là chức năng đặc biệt quan trọng tạo ra các năng lực cốt lõi. Đây là chức năng được DN thực hiện một cách hoàn hảo và có thể trở thành năng lực cốt lõi nếu tình thế cạnh tranh thay đổi. Thí dụ với một nhà sản xuất ô tô tải, nếu logistics là chức năng thiết yếu và rất nổi trội, trong một tình huống nào đó, hãng có thể từ bỏ sản xuất ô tô và chuyển sang làm logistics.

Chức năng chính (Key funtion) là chức năng giúp công ty đạt được năng lực cốt lõi nhưng không ràng buộc chặt vào các kinh doanh này. Thí dụ như hệ thống quản lý vận tải, mặc dù có mối quan hệ gắn bó với năng lực cốt lõi nhưng các chức năng này khó trở thành các năng lực cốt lõi.

Chức năng bổ trợ (Support funtion) là chức năng làm nền tảng cho các nghiêp vụ kinh doanh nhưng không bao giờ trở thành năng lực cốt lõi của tổ chức. Chúng bao gồm hầu hết các công việc hàng ngày hoặc việc điều chỉnh các sai lầm phát sinh như quản lý lương, xử lý thư từ, dịch vụ chăm sóc khách hàng.

(5) Kết hợp các phân tích để nhận ra các cơ hội outsourcing. Sau khi đã đánh giá và phân loại được các hoạt động logistics theo 3 khía cạnh (1) chi phí; (2) năng suất và (3) tầm quan trọng, cần xắp sếp chúng vào các vị trí thích hợp trong giản đồ 3 chiều ở hình 3 tương ứng với 8 nhóm cơ hội cho hoạt động thuê ngoài.

Nhóm 1 có cả 3 tiêu chuẩn đều cao, là các hoạt động rất khó để thuê ngoài. Mặc dù đặc trưng chi phí cao là gợi ý để thuê ngoài nhưng hầu hết các tổ chức đều thừa nhận rằng lao động có năng suất cao gắn liền với chuyên môn quan trọng thì thuê ngoài rất đắt đỏ. Đây là các chức năng hàng đầu, có vị trí cao nhất trong cơ cấu quản trị của một tổ chức, thường gắn liền với công việc quản lý cấp cao như giám đốc logistics, có thể coi là thành lũy cuối cùng không thể với tới và hầu như không thể có giải pháp thuê ngoài cho chức năng này.

Nhóm 2 gồm các công việc có năng suất và mức chi phí cao nhưng không quan trọng trong hệ thống do đó có thể thuê ngoài nếu chi phí đi thuê thấp hơn. Quyết định thuê ngoài cần đảm bảo năng suất cao sẽ vẫn được duy trì trong và sau quá trình chuyển đổi cho nhà cung cấp ngoài.

Nhóm 3 thường đặc trưng bởi công việc của các nhân viên văn phòng xử lý các thông tin có tầm quan trọng nhưng chi phí thấp, do đó các hoạt động này không hấp dẫn các ứng cử viên thuê ngoài nhất là những công việc này lại đòi hỏi phải thực hiện với năng suất cao.

Nhóm 4 là nhóm sẵn sàng để thuê ngoài do tầm quan trọng không lớn, chi phí thấp và năng suất cao đòi hỏi tìm kiếm các nhà cung cấp có chi phí thấp hơn và năng suất lớn hơn.

Nhóm 5. Không cần quan tâm đến thuê ngoài trừ khi có các nhà cung cấp có dịch vụ logistics đặc biệt vượt trội, đồng thời phải đảm bảo rằng các dịch vụ của họ là phù hợp và có khả năng bảo vệ các lợi thế cạnh tranh. Hoặc trong trường hợp khi các đối thủ cạnh tranh tạo ra một vị trí chiến lược nổi trội qua thuê ngoài và DN sử dụng chiến lược bắt chước.

Nhóm 6. Đây không phải là các hoạt động cần thuê ngoài, 3 chỉ tiêu về chi phí, năng suất và tầm quan trọng đều thấp cho thấy các hoạt động này rất kém hiệu quả trong cạnh tranh, nếu thuê ngoài nhiều nhất chỉ thu được lợi ích ngang bằng trong ngành.

Nhóm 7 có chi phí cao, năng suất thấp thường là các hoat động thuê ngoài tốt. Tầm quan trọng lớn của các hoạt động này đòi hỏi sử dụng các kỹ thuật để hạn chế các rủi ro nên làm cho các quyết định thuê ngoài trở nên phức tạp. Do đó cần lựa chọn cẩn thận các nhà cung cấp có năng lực hỗ trợ và khả năng phục hồi các hoạt động khi cần thiết.

Nhóm 8 là nhóm có chi phí cao và năng suất thấp kết hợp với tầm quan trọng thấp cho thấy đây là những công việc cần thuê ngoài nhiều nhất. Các công nhân kỹ thuật là những người đại diện cho công việc này. Khó khăn ở đây là số lượng các lao động loại này thường nhiều nên có thể phải sa thải một số lượng lớn. Cần tính toán kỹ lưỡng để giảm thiểu những phản đối và kháng cự trước những thay đổi này.

Mô hình này khá phức tạp nhưng cung cấp một cách chi tiết và đầy đủ các nhân tố quyết định các cơ hội thuê ngoài logistics. Nó cũng gợi ý rằng, để chiến lược thuê ngoài có thể thành công, cần chọn được các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài phù hợp và phát triển các chiến lược liên minh hiệu quả.

Kinh doanh ngày nay đòi hỏi các DN không thể chỉ dựa vào nguồn lực tại chỗ mà cần tận dụng được sức mạnh từ bên ngoài. Đặc biệt, logistics là hoạt động có yêu cầu sử dụng nguồn lực cơ sở vật chất lớn, có phạm vi rộng và phân tán nhất trong DN, do đó tìm kiếm các mô hình thuê ngoài phù hợp là một giải pháp hữu hiệu với mục tiêu hội nhập và phát triển hiện nay.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Hàng hải “thúc” doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ 4.0

Ngày 10/12/2018 lúc 11:10

Cục Hàng hải Việt Nam yêu cầu các doanh nghiệp cảng biển, vận tải biển tích hợp công nghệ mới để đầu tư phát triển.

TEU thứ 1.5 triệu được thông qua cảng TCIT

Ngày 08/12/2018 lúc 10:04

Ngày 7.12.2018, TEU thứ 1.5 triệu xếp lên tàu ONE COLUMBA được thông qua tại Cảng quốc tế Tân cảng – Cái Mép (TCIT), đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của cảng TCIT trong hành trình 8 năm đi vào hoạt động.

Sinh viên Việt Nam: Bản lĩnh - học tập - sáng tạo - tình nguyện - hội nhập - phát triển

3 Giờ trước

Sáng 10.12, tại Thủ đô Hà Nội, phiên trọng thể Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ X nhiệm kỳ 2018 – 2023 đã được tổ chức.

Dự báo những rủi ro hàng đầu đối với nền kinh tế thế giới năm 2019

4 Giờ trước

Các nhà phân tích của trang mạng Bloomberg (Mỹ) đã đưa ra dự báo về các rủi ro chính trị hàng đầu đối với nền kinh tế thế giới năm 2019.

Cắt thủ tục giúp tiết kiệm gần 18 triệu ngày công, hơn 6.000 tỷ đồng

4 Giờ trước

Đây là con số ước tính về hiệu quả kinh tế của việc cắt giảm, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành, theo tính toán từ một số bộ.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

30.7°

Mây âm u

12/12

24° - 34°

Mây rải rác

13/12

24° - 33°

Mây rải rác

14/12

24° - 33°

Có thể có dông

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 11/12/2018 11:50
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,552.5916,652.5116,834.32
EUR26,270.2426,349.2926,742.61
GBP28,947.4129,151.4729,410.85
JPY199.90201.92206.97
SGD16,754.2116,872.3217,056.52
THB695.29695.29724.29
USD23,260.0023,260.0023,350.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 11/12/2018 11:50
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L15,25015,550
DO 0,001S-VVND/L16,40016,720
DO 0,05S-IIVND/L16,25016,570
E5 RON 92-IIVND/L17,18017,520
Xăng RON 95-IIIVND/L18,45018,810
Xăng RON 95-IVVND/L18,60018,970
Nguồn: Petrolimex
"Thà tiêu tốn 1 giờ bổ sung kiến thức còn hơn cả đời chịu thua kém người khác"

"Thà tiêu tốn 1 giờ bổ sung kiến thức còn hơn cả đời chịu thua kém người khác"

Ngày 28/11/2018 lúc 08:30

1. Kỹ năng giao tiếpGiao tiếp giỏi không có nghĩa là bạn phải là một nhà hùng biện xuất sắc hoặc...