Tăng cường vị thế của nông dân trong chuỗi cung ứng lúa gạo Đồng Bằng Sông Cửu Long

(VLR) (VietNam Logistics Review) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có 4,1 triệu ha đất trồng lúa, là vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất của cả nước. Với sản lượng 24,6 triệu tấn lúa (tương đương 15,99 triệu tấn gạo) trong năm qua, ĐBSCL đang chiếm 53% tổng sản lượng lúa trong cả nước.

(VietNam Logistics Review) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có 4,1 triệu ha đất trồng lúa, là vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất của cả nước. Với sản lượng 24,6 triệu tấn lúa (tương đương 15,99 triệu tấn gạo) trong năm qua, ĐBSCL đang chiếm 53% tổng sản lượng lúa trong cả nước.

Khu vực này cũng chiếm hơn 90% trong tổng số 8,01 triệu tấn gạo xuất khẩu, giá trị kim ngạch lên đến 3,67 tỷ USD. Tuy nhiên, người nông dân ĐBSCL, chủ thể quan trọng trong chuỗi cung ứng lúa gạo cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, vẫn nghèo, chịu nhiều thiệt thòi và rủi ro trong quá trình phân phối lợi ích của chuỗi giá trị. Đã có nhiều nghiên cứu và đề xuất các giải pháp “thắng-thắng” cho các chủ thể, trong đó có phần lợi ích của người nông dân. Bài viết này phân tích lại vấn đề với mong muốn vị thế của người nông dân trên thị trường sẽ được cải thiện hơn trong năm mới và vai trò của họ sẽ được khẳng định hơn trong chuỗi cung ứng lúa gạo.

Chuỗi giá trị lúa gạo ĐBSCL

Hiện nay chuỗi giá trị thương mại lúa gạo của ĐBSCL chủ yếu có hai kênh chính là thị trường nội địa và xuất khẩu. Kênh thị trường nội địa qua các khâu từ người sản xuất (chủ yếu là nông hộ nhỏ lẻ, ngoài ra còn có trang trại, hợp tác xã) qua các nấc trung gian là thương lái, DN chế biến (các nhà máy xay xát, lau bóng...), DN kinh doanh (bán buôn, bán lẻ), đến tay người tiêu dùng qua các kênh như cửa hàng, chợ, siêu thị... Kênh xuất khẩu gồm các khâu từ người nông dân qua các nấc trung gian là thương lái, DN thực hiện sơ chế và DN kinh doanh xuất khẩu. Hình thức giao dịch phổ biến là mua bán tự do, giao hàng ngay và không có hợp đồng giữa nông dân với thương lái; chưa phổ biến mua bán thông qua ký kết hợp đồng giữa DN với hộ nông dân, hình thức mua bán giao dịch qua chợ đầu mối, trung tâm giao dịch nông sản rất hạn chế.

Như vậy, đối với cả hai kênh tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, vai trò của thương lái rất quan trọng trong phân phối lúa gạo của nông dân. Theo nghiên cứu mới nhất của TS. Đào Thế Anh và đồng sự vào tháng 9.2014, nông dân ĐBSCL bán lúa cho thương lái chiếm đến 93%, còn bán trực tiếp cho các nhà máy xay xát chỉ 4% và các nhà máy lau bóng xuất khẩu chỉ 3%. Thương lái là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây, không hẳn là khái niệm “thương nhân” trong Luật Thương mại. Thương lái thường được hiểu là người thu gom nông sản hàng hóa từ nông dân. Trong thực tế, những người mua gom này có quy mô hoạt động rất khác biệt và có thể đảm trách các khâu không giống nhau, từ thu gom lúa, phơi sấy, xay xát gạo nguyên liệu, dự trữ, bảo quản, cho đến chế biến gạo thương phẩm. Họ thường mua lúa trực tiếp của nông dân từ các vùng khác nhau với qui mô dao động rất linh hoạt từ 100 kg đến 50 tấn mỗi lượt. Điểm mua ngay tại đồng ruộng hoặc tại kho dự trữ của nông dân, thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt. Họ có thể sấy lúa, xay xát và dự trữ gạo tại các nhà máy xay xát nhỏ ven sông. Khi các nhà buôn hay nhà xuất khẩu đặt hàng hoặc chào giá mua hợp lý thì họ giao gạo nguyên liệu tại nhà máy của bên mua hoặc giao gạo thành phẩm tại cảng giao hàng do bên mua chỉ định.

Thực ra, còn có một chuỗi giá trị khác là mô hình DN đầu tư vùng lúa chuyên canh đặc chủng để xuất khẩu. Đó là trường hợp Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu theo chuỗi liên kết sản xuất, thu mua lúa tươi cho nông dân cùng với việc xây dựng thêm nhà máy chế biến lúa gạo có vốn đầu tư 58 tỉ đồng với kho chứa 12 ngàn tấn, hệ thống sấy công suất 300 tấn/giờ kèm hệ thống xay xát, lau bóng... trong năm qua. Một minh họa sôi động khác là Công ty Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) đã triển khai chuỗi sản xuất lúa gạo bền vững (còn gọi là mô hình cánh đồng mẫu lớn) qua việc liên kết xây dựng vùng nguyên liệu, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, cung ứng giống, thuốc phòng trị bệnh, phân bón với nông dân; kèm theo đó là xây dựng 5 cụm nhà máy chế biến lương thực tại các vùng nguyên liệu ở An Giang, Long An, Đồng Tháp, Bạc Liêu. Tuy nhiên, đây mới chỉ là xu hướng chuyển dịch của các DN xuất khẩu gạo, chưa phải là hiện trạng phổ biến ở ĐBSCL hiện nay.

Ngoài ra, trong chuỗi cung ứng lúa gạo này, còn phải kể đến những nhà cung ứng đầu vào cho người nông dân, lớn nhất là những nhà phân phối phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, chưa kể ngân hàng, xăng dầu chạy máy, cung cấp lúa giống ...

Vị thế của người nông dân trong chuỗi cung ứng

Do các điều kiện đặc thù về thu hoạch, vận chuyển và hạn chế về thông tin thị trường, người nông dân ĐBSCL hiện nay hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái trong việc bán sản phẩm do họ sản xuất. Mọi thứ, kể cả giá thu mua lúa, đều do thương lái định đoạt, dù thương lái thường cho rằng giá cả do các DN xuất khẩu quyết định chứ không phải họ. Dù sao thì các khảo sát được thực hiện bởi những tổ chức uy tín đều xác nhận nông dân thường chịu phần thua thiệt. Chẳng hạn, điều tra của Oxfam hợp tác với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) tại tỉnh An Giang cho thấy, trong số ba tác nhân tham gia chuỗi giá trị xuất khẩu (nông dân, thương lái, DN xuất khẩu), nông dân phải bỏ mức chi phí cao nhất (63%, chưa tính công lao động của các thành viên gia đình họ) trong khi thương lái và các DN xuất khẩu chia đều 37% còn lại. Nếu tính tổng giá trị, mỗi hộ nông dân chỉ thu được 27,3 triệu đồng cho cả năm lao động vất vả, trong khi mỗi thương lái trung bình thu về 300 triệu đồng, và mỗi DN xuất khẩu thu lợi nhuận 25 tỉ đồng/năm.

Trong khi đó, do mọi khoản chi tiêu và chi phí sản xuất ngày càng tăng, phần lớn hộ trồng lúa vơi dần vốn liếng, lúc nào cũng rất “đói” tiền mặt. Thủ tục vay vốn ngân hàng, kể cả các ngân hàng thương mại, còn khá rườm rà, khó khăn, định mức vay rất thấp, không đủ cho sản xuất, nên hầu hết nông dân phải mua chịu vật tư theo kiểu ghi nợ ở các đại lý phân bón và thuốc bảo vệ thực vật với giá cao hơn so với trả tiền mặt, cộng với lãi suất cao. Gánh nặng chi phí này tạo ra một vòng luẩn quẩn khó thoát đối với người nông dân. Đó là chưa kể tình trạng một số nông dân sính dùng vật tư ngoại nhập với giá cao hơn nhiều so với sản phẩm nội địa cùng loại, do thiếu thông tin và bị tác động một cách thụ động bởi các chiến dịch quảng cáo. Ngoài ra, xu thế giá phân bón tăng nhanh hơn và giảm chậm hơn diễn biến giá lúa, như thường thấy trong mấy năm qua, cũng gây thiệt hại tương đối cho người nông dân sản xuất lúa.

Nhìn chung, giá trị gia tăng từ sản phẩm cuối cùng không có sự phân bổ công bằng giữa các chủ thể. Những DN thương mại trong chuỗi cung ứng, với vị trí áp đảo trong chuỗi giá trị, giành lấy lợi ích nhiều nhất. GS.TS Võ Tòng Xuân đã đúc kết: “Trong chuỗi sản xuất và xuất khẩu lúa gạo, phần được hưởng lợi nhiều nhất thuộc về những đơn vị cung ứng phân phối phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tiếp đến là đầu mối xuất khẩu gạo, sau đó là các DN thu mua chế biến và thương lái. Họ chỉ kinh
doanh đã kiếm lời trên 70%, còn nông dân được hưởng lợi thường không tới 30%”. Có lẽ vì thế nên theo số liệu của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2006-2010, giá lúa cổng trại tăng hơn gấp rưỡi, nhưng lợi nhuận trung bình người trồng lúa thu về lại “rớt” mạnh từ trên 40% xuống trên 20%. Ngay tại ĐBSCL, thu nhập trung bình của nông dân chỉ là 535.000 đồng/tháng, bằng một nửa mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định và không nhỉnh hơn ngưỡng nghèo bao nhiêu.

Giải pháp nào?

Các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều giải pháp để nâng cấp chuỗi cung ứng lúa gạo ĐBSCL. Trong số đó, có thể kể đến việc đa dạng hóa và tăng giá trị sản phẩm, đầu tư công nghệ, phát triển các dịch vụ gia tăng giá trị, mở rộng sự tham gia vào chuỗi cung ứng gạo khu vực và toàn cầu, đầu tư vùng nguyên liệu, giảm tổn thất sau thu hoạch, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, phát triển liên kết nhóm, sử dụng các công cụ tài chính để giảm rủi ro biến
động giá...

Trong phạm vi chia sẻ một cách hợp lý các thành quả và lợi ích đạt được của chuỗi giá trị đối với chủ thể nông dân, cần lưu ý làm thế nào để tăng cường vị thế của nông dân trên thị trường và trong chuỗi cung ứng, cũng như giảm sự phụ thuộc của họ vào những yếu tố không chắc chắn. Chẳng hạn, tạo điều kiện để nông dân dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng lãi suất thấp, thậm chí không lãi suất, thông qua việc thành lập quỹ tái đầu tư cho nông dân sản xuất lúa bằng cách thu 1USD/tấn gạo xuất khẩu. Khi giải quyết được khâu vốn, nông dân có thể cắt giảm chi phí sản xuất lúa bằng cách chủ động hợp đồng và bàn vấn đề chiết khấu với các nhà cung ứng đầu vào. Để giảm phụ thuộc vào thương lái, rút ngắn kênh thị trường chuỗi, giảm tác nhân và chi phí trung gian, có thể tăng cường liên kết dọc giữa các công ty và nông dân. Hướng triển khai khả thi là mô hình bao tiêu sản phẩm bằng cách đầu tư các nhà máy liên hợp ở địa phương và xây dựng silo dự trữ lúa gạo qui mô lớn như Angimex và AGPPS đang làm. Tuy nhiên, mô hình này chỉ phát triển bền vững nếu các công ty đầu tư có chính sách cân đối lợi ích hợp lý với nông dân, kết nối và hỗ trợ trực tiếp nông dân, mua đúng giá lúa và bảo đảm cho người nông dân có lãi tối thiểu theo qui định của Nhà nước.

Về phía Nhà nước, ngoài những công tác lớn như quy hoạch, định hướng phát triển, tạo điều kiện thuận tiện cho quá trình đổi mới tổ chức sản xuất và lưu thông hàng hóa, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu..., cần có các chính sách cụ thể để bảo vệ lợi ích người nông dân trong chuỗi giá trị. Một số giải pháp cần triển khai bao gồm: kiểm soát hiệu quả chất lượng, giá cả các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên thị trường; đẩy mạnh công tác khuyến nông theo hướng hỗ trợ tích cực hơn cho việc phổ biến kỹ thuật canh tác lúa hiện đại và hướng dẫn nông dân sử dụng tiết kiệm các nguồn lực đầu vào; cải tiến cơ chế tín dụng nông thôn; hỗ trợ năng lực hoạt động và xây dựng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử cho Hội nông dân...

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Hàng về Cái Mép cao hơn về Cát Lái 100 USD mỗi container?

Ngày 18/04/2019 lúc 08:20

Ngày 17/4, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các ngành liên quan đã cùng nhau bàn các giải pháp để nâng cao năng suất, tăng lượng hàng qua hệ thống cảng container nước sâu tại tỉnh này.

Giải pháp trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container đường biển

Ngày 18/04/2019 lúc 09:04

Ngày 15/4, Tập đoàn Kuehne + Nagel cho ra mắt sản phẩm KN Pledge – giải pháp vận tải đường biển trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container.

Hạn mức giao dịch ví điện tử cá nhân không quá 20 triệu đồng/ ngày

1 Giờ trước

Đó là một trong những điểm nổi bật được nêu trong dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39 hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán đang được Ngân hàng Nhà nước đưa ra lấy ý kiến.

2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh

1 Giờ trước

Năm 2018, tỉnh Quảng Di sản thế giới mới chỉ hút 12 triệu khách tham quanQuảng Ninh với vị trí địa lý sơn thuỷ hữu tình đã tạo nên một "kỳ quan đá dựng giữa trời cao" - Vịnh Hạ Long (trích Nguyễn Trãi). Tuy nhiên, di sản thiên nhiên thế giới này hiện mới chỉ hấp dẫn trên 12,2 triệu lượt khách đến tham quan năm 2018.Tại hội thảo “ Du lịch Quảng Ninh – Vươn tầm di sản” tổ chức tại Trung tâm hội nghị quốc tế - Quần thể nghỉ dưỡng FLC Hạ Long, ngày 19/4, ông Nguyễn Đức Long, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết Quảng Ninh được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh với các địa điểm du lịch, di tích quốc gia, biển đảo, bãi tắm du lịch nổi tiếng. Tỉnh đã có hệ thống hạ tầng hiện đại, các đường cao tốc từ Hải Phòng - Hạ Long kết nối đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, có đường cao tốc đi sân bay quốc tế Vân Đồn và đang khởi công xây dựng đường cao tốc từ Vân Đồn đến Móng Cái.Ngành Du lịch Quảng Ninh trong năm 2018 đã đón 12,2 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 5,2 triệu lượt. Tổng thu đạt trên 24.000 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ, thu ngân sách tăng 31% so với cùng kỳ. Các khách sạn, dịch vụ, sản phẩm mới được ra đời. Nhận thức về du lịch của cộng đồng người dân cao hơn.2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh - Ảnh 1.Nguồn: Tổng cục Du lịch, UBND tỉnh Quảng Ninh.So với lượng khách du lịch trên cả nước trong năm 2018 là 95,5 triệu lượt, tỷ trọng khách duc lịch đến Quảng Ninh mới chỉ chiếm 12,77%, tương ứng 12,2 triệu lượt. Trong đó, khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh đạt 5,5 triệu lượt, chiếm tỷ trọng 35,48% trong tổng lượng khách quốc tế cả nước. Khách trong nước đến Quảng Ninh cũng chỉ chiếm 8,38%.Tuy nhiên, tỷ trọng khách quốc tế đạt 5,5 triệu lượt (46%) đang áp đảo so với khách nội địa 6,7 triệu lượt (54%) trong tổng lượng khách đến Quảng Ninh.Theo ông Nguyễn Đức Long, tỉnh Quảng Ninh đã đặt ra mục tiêu đưa du lịch thành ngành mũi nhọn với hệ thống hạ tầng hiện đại, trở thành một trong những đầu tàu để phát triển kinh tế. Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 15 -16 triệu lượt khách trong đó có 7 triệu lượt khách quốc tế. Đến năm 2030, đặt mục tiêu đạt 30 triệu lượt trong đó khách quốc tế đạt 15 triệu lượt.Năm 2018, du lịch đóng góp 9% GDP. Tỉnh phấn đấu đến năm 2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP, tạo 100.000 việc làm trực tiếp và gián tiếp. Việc nâng cao nhận thức về phát triển du lịch để du lịch không chỉ là của cộng đồng doanh nghiệp mà cả của người dân địa phương trên toàn địa bàn tỉnh.Di sản quốc tế - Chất lượng nhân sự phải quốc tếTheo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, Quảng Ninh như một Việt Nam thu nhỏ, là vùng đất có sự đa dạng văn hóa gắn với đặc sắc 22 thành phần dân tộc chiếm gần một nửa trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, có di sản văn hóa tâm linh Yên Tử và kì quan thế giới Vịnh Hạ Long. Philip Kotler, cha đẻ marketing thế giới đã từng đặt câu hỏi tại sao Việt Nam không trở thành “bếp ăn của thế giới”, ý là tại sao không trở thành điểm đến hàng đầu của thế giới. Vậy chúng ta lại đặt câu hỏi, tại sao Quảng Ninh không trở thành điểm đến hàng đầu của Việt Nam và tiến tới của cả thế giới? Để làm được điều này, mỗi người dân có thể trở thành một đại sứ du lịch.Quảng Ninh đặt mục tiêu vươn ra thế giới nhưng vẫn phải giữ gìn vè đẹp hoang sơ của thiên nhiên. Yếu tố đảm bảo thành công là xây dựng được mối liên kết phát triển giữa các tỉnh. Các tỉnh cần ngồi lại với nhau để xây dựng chiến lược tổng thể trong cả khu vực.“Ở đây tôi cũng muốn nói đến sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Tập đoàn FLC, Vin, Sungroup, những đóng góp của họ góp phần tạo nên câu chuyện cổ tích của Quảng Ninh”, ông Lộc nhấn mạnh.Còn theo ông Phạm Ngọc Thủy, Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, trong thời gian gần đây, khách du lịch đến với Quảng Ninh mới biết đến một số địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Yên Tử... Tuy nhiên, thực tế Quảng Ninh còn có 600 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 5 di tích quốc gia đặc biệt, 3 di tích cấp quốc gia, 8 di tích cấp tỉnh. Có thể thấy, Quảng Ninh được thiên nhiên ưu ái ban cho điều kiện tự nhiên, văn hóa làm tiền đề phát triển du lịch.Từ 30/12/2018, tỉnh Quảng Ninh đã đưa vào khai thác cảng tàu du lịch, cảng đã đón gần 50 chuyến tàu, Vân Đồn cũng đón gần 50.000 người. Kết nối phát triển du lịch phải nằm trong kết nối với các địa phương cả nước và nước ngoài. Các tour lữ hành sẽ có điều kiện phát triển hơn, mở ra hội nhập quốc tế.Các tập đoàn kinh tế đã tạo ra bộ mặt du lịch khang trang hơn, hạ tầng du lịch đều đạt đẳng cấp quốc tế đóng góp mạnh vào phát triển tỉnh. Tuy nhiên, Quảng Ninh chưa có đường hàng không nên kết nối khó khăn. Đã có rất nhiều hãng hàng không đã đặt vấn đề với tỉnh để kết nối các địa bàn trong nước và nước ngoài tạo thành vòng cung khép kín, tiết kiệm thời gian đi lại cho khách du lịch.Muốn khách du lịch đến và ở lại dài ngày chúng ta phải mở rộng không gian du lịch. Cũng đã có các tập đoàn kinh tế lớn đặt hạ tầng tại các địa điểm như Quan Lạn, Cô Tô, Vân Đồn… Nhưng nếu không gian du lịch không được mở rộng sẽ không kéo được khách du lịch mà còn dẫn đến sự quá tải cục bộ.“Để phát triển du lịch đẳng cấp quốc tế, ngoài hạ tầng tốt cần có nguồn nhân lực cao và đẳng cấp quốc tế. Không chỉ là việc đào tạo nhân lực cấp cao mà cả nhân lực cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân, vì du lịch liên quan đến văn hóa, ông Thuỷ nói.Đồng tình quan điểm này, ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hiệp hội các tổ chức dịch vụ và phát triển kinh doanh Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn FLC, cho rằng nhân lực du lịch của Quảng Ninh còn thiếu và yếu, trong một năm chúng tôi có thể xây khách sạn 1-2 nghìn phòng, cần 3 nghìn lao động, thế nhưng lao động lấy ở đâu? Hay như ở Thanh Hóa, chúng tôi được cấp phép 5 sao cho hạ tầng nhưng nhân lực nói thực mới chỉ 3 sao đổ lại.Quảng Ninh cần mở các khóa đào tạo, cần mời chuyên gia về đào tạo của Việt Nam để đào tạo nhân lực 5 sao để thu tiền được 5 sao, chứ không chỉ thu tiền được 3 sao. đón 12,2 triệu lượt khách đến tham quan, chiếm tỷ lệ gần 13% tổng lượng khách du lịch cả nước.

Đăng ký bán hàng trên Amazon: Cơ hội “lên sàn” cho những doanh nghiệp uy tín

1 Giờ trước

Bộ Công Thương Việt Nam và Amazon mới đây đã thống nhất Chương trình hợp tác trong 3 năm (2019 - 2021) với việc hỗ trợ DN Việt xuất khẩu toàn cầu.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

29°

Mây rải rác

23/04

28° - 36°

Nắng ấm

24/04

28° - 37°

Nhiều mây

25/04

28° - 38°

Nhiều mây

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 22/04/2019 09:55
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,386.4416,485.3516,665.39
EUR25,891.3025,969.2126,617.90
GBP29,802.0130,012.0930,279.24
JPY202.11204.15210.55
SGD16,907.4417,026.6317,212.58
THB714.43714.43744.23
USD23,155.0023,155.0023,255.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 21/04/2019 23:55
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1626016580
DO 0,001S-VVND/L1768018030
DO 0,05S-IIVND/L1738017720
E5 RON 92-IIVND/L1970020090
Xăng RON 95-IIIVND/L2123021650
Xăng RON 95-IVVND/L2138021800
Nguồn: Petrolimex