Tăng cường vị thế của nông dân trong chuỗi cung ứng lúa gạo Đồng Bằng Sông Cửu Long

(VLR) (VietNam Logistics Review) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có 4,1 triệu ha đất trồng lúa, là vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất của cả nước. Với sản lượng 24,6 triệu tấn lúa (tương đương 15,99 triệu tấn gạo) trong năm qua, ĐBSCL đang chiếm 53% tổng sản lượng lúa trong cả nước.

(VietNam Logistics Review) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có 4,1 triệu ha đất trồng lúa, là vùng sản xuất lúa gạo lớn nhất của cả nước. Với sản lượng 24,6 triệu tấn lúa (tương đương 15,99 triệu tấn gạo) trong năm qua, ĐBSCL đang chiếm 53% tổng sản lượng lúa trong cả nước.

Khu vực này cũng chiếm hơn 90% trong tổng số 8,01 triệu tấn gạo xuất khẩu, giá trị kim ngạch lên đến 3,67 tỷ USD. Tuy nhiên, người nông dân ĐBSCL, chủ thể quan trọng trong chuỗi cung ứng lúa gạo cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, vẫn nghèo, chịu nhiều thiệt thòi và rủi ro trong quá trình phân phối lợi ích của chuỗi giá trị. Đã có nhiều nghiên cứu và đề xuất các giải pháp “thắng-thắng” cho các chủ thể, trong đó có phần lợi ích của người nông dân. Bài viết này phân tích lại vấn đề với mong muốn vị thế của người nông dân trên thị trường sẽ được cải thiện hơn trong năm mới và vai trò của họ sẽ được khẳng định hơn trong chuỗi cung ứng lúa gạo.

Chuỗi giá trị lúa gạo ĐBSCL

Hiện nay chuỗi giá trị thương mại lúa gạo của ĐBSCL chủ yếu có hai kênh chính là thị trường nội địa và xuất khẩu. Kênh thị trường nội địa qua các khâu từ người sản xuất (chủ yếu là nông hộ nhỏ lẻ, ngoài ra còn có trang trại, hợp tác xã) qua các nấc trung gian là thương lái, DN chế biến (các nhà máy xay xát, lau bóng...), DN kinh doanh (bán buôn, bán lẻ), đến tay người tiêu dùng qua các kênh như cửa hàng, chợ, siêu thị... Kênh xuất khẩu gồm các khâu từ người nông dân qua các nấc trung gian là thương lái, DN thực hiện sơ chế và DN kinh doanh xuất khẩu. Hình thức giao dịch phổ biến là mua bán tự do, giao hàng ngay và không có hợp đồng giữa nông dân với thương lái; chưa phổ biến mua bán thông qua ký kết hợp đồng giữa DN với hộ nông dân, hình thức mua bán giao dịch qua chợ đầu mối, trung tâm giao dịch nông sản rất hạn chế.

Như vậy, đối với cả hai kênh tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, vai trò của thương lái rất quan trọng trong phân phối lúa gạo của nông dân. Theo nghiên cứu mới nhất của TS. Đào Thế Anh và đồng sự vào tháng 9.2014, nông dân ĐBSCL bán lúa cho thương lái chiếm đến 93%, còn bán trực tiếp cho các nhà máy xay xát chỉ 4% và các nhà máy lau bóng xuất khẩu chỉ 3%. Thương lái là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây, không hẳn là khái niệm “thương nhân” trong Luật Thương mại. Thương lái thường được hiểu là người thu gom nông sản hàng hóa từ nông dân. Trong thực tế, những người mua gom này có quy mô hoạt động rất khác biệt và có thể đảm trách các khâu không giống nhau, từ thu gom lúa, phơi sấy, xay xát gạo nguyên liệu, dự trữ, bảo quản, cho đến chế biến gạo thương phẩm. Họ thường mua lúa trực tiếp của nông dân từ các vùng khác nhau với qui mô dao động rất linh hoạt từ 100 kg đến 50 tấn mỗi lượt. Điểm mua ngay tại đồng ruộng hoặc tại kho dự trữ của nông dân, thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt. Họ có thể sấy lúa, xay xát và dự trữ gạo tại các nhà máy xay xát nhỏ ven sông. Khi các nhà buôn hay nhà xuất khẩu đặt hàng hoặc chào giá mua hợp lý thì họ giao gạo nguyên liệu tại nhà máy của bên mua hoặc giao gạo thành phẩm tại cảng giao hàng do bên mua chỉ định.

Thực ra, còn có một chuỗi giá trị khác là mô hình DN đầu tư vùng lúa chuyên canh đặc chủng để xuất khẩu. Đó là trường hợp Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu An Giang (Angimex) tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu theo chuỗi liên kết sản xuất, thu mua lúa tươi cho nông dân cùng với việc xây dựng thêm nhà máy chế biến lúa gạo có vốn đầu tư 58 tỉ đồng với kho chứa 12 ngàn tấn, hệ thống sấy công suất 300 tấn/giờ kèm hệ thống xay xát, lau bóng... trong năm qua. Một minh họa sôi động khác là Công ty Bảo vệ thực vật An Giang (AGPPS) đã triển khai chuỗi sản xuất lúa gạo bền vững (còn gọi là mô hình cánh đồng mẫu lớn) qua việc liên kết xây dựng vùng nguyên liệu, ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, cung ứng giống, thuốc phòng trị bệnh, phân bón với nông dân; kèm theo đó là xây dựng 5 cụm nhà máy chế biến lương thực tại các vùng nguyên liệu ở An Giang, Long An, Đồng Tháp, Bạc Liêu. Tuy nhiên, đây mới chỉ là xu hướng chuyển dịch của các DN xuất khẩu gạo, chưa phải là hiện trạng phổ biến ở ĐBSCL hiện nay.

Ngoài ra, trong chuỗi cung ứng lúa gạo này, còn phải kể đến những nhà cung ứng đầu vào cho người nông dân, lớn nhất là những nhà phân phối phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, chưa kể ngân hàng, xăng dầu chạy máy, cung cấp lúa giống ...

Vị thế của người nông dân trong chuỗi cung ứng

Do các điều kiện đặc thù về thu hoạch, vận chuyển và hạn chế về thông tin thị trường, người nông dân ĐBSCL hiện nay hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái trong việc bán sản phẩm do họ sản xuất. Mọi thứ, kể cả giá thu mua lúa, đều do thương lái định đoạt, dù thương lái thường cho rằng giá cả do các DN xuất khẩu quyết định chứ không phải họ. Dù sao thì các khảo sát được thực hiện bởi những tổ chức uy tín đều xác nhận nông dân thường chịu phần thua thiệt. Chẳng hạn, điều tra của Oxfam hợp tác với Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD) tại tỉnh An Giang cho thấy, trong số ba tác nhân tham gia chuỗi giá trị xuất khẩu (nông dân, thương lái, DN xuất khẩu), nông dân phải bỏ mức chi phí cao nhất (63%, chưa tính công lao động của các thành viên gia đình họ) trong khi thương lái và các DN xuất khẩu chia đều 37% còn lại. Nếu tính tổng giá trị, mỗi hộ nông dân chỉ thu được 27,3 triệu đồng cho cả năm lao động vất vả, trong khi mỗi thương lái trung bình thu về 300 triệu đồng, và mỗi DN xuất khẩu thu lợi nhuận 25 tỉ đồng/năm.

Trong khi đó, do mọi khoản chi tiêu và chi phí sản xuất ngày càng tăng, phần lớn hộ trồng lúa vơi dần vốn liếng, lúc nào cũng rất “đói” tiền mặt. Thủ tục vay vốn ngân hàng, kể cả các ngân hàng thương mại, còn khá rườm rà, khó khăn, định mức vay rất thấp, không đủ cho sản xuất, nên hầu hết nông dân phải mua chịu vật tư theo kiểu ghi nợ ở các đại lý phân bón và thuốc bảo vệ thực vật với giá cao hơn so với trả tiền mặt, cộng với lãi suất cao. Gánh nặng chi phí này tạo ra một vòng luẩn quẩn khó thoát đối với người nông dân. Đó là chưa kể tình trạng một số nông dân sính dùng vật tư ngoại nhập với giá cao hơn nhiều so với sản phẩm nội địa cùng loại, do thiếu thông tin và bị tác động một cách thụ động bởi các chiến dịch quảng cáo. Ngoài ra, xu thế giá phân bón tăng nhanh hơn và giảm chậm hơn diễn biến giá lúa, như thường thấy trong mấy năm qua, cũng gây thiệt hại tương đối cho người nông dân sản xuất lúa.

Nhìn chung, giá trị gia tăng từ sản phẩm cuối cùng không có sự phân bổ công bằng giữa các chủ thể. Những DN thương mại trong chuỗi cung ứng, với vị trí áp đảo trong chuỗi giá trị, giành lấy lợi ích nhiều nhất. GS.TS Võ Tòng Xuân đã đúc kết: “Trong chuỗi sản xuất và xuất khẩu lúa gạo, phần được hưởng lợi nhiều nhất thuộc về những đơn vị cung ứng phân phối phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, tiếp đến là đầu mối xuất khẩu gạo, sau đó là các DN thu mua chế biến và thương lái. Họ chỉ kinh
doanh đã kiếm lời trên 70%, còn nông dân được hưởng lợi thường không tới 30%”. Có lẽ vì thế nên theo số liệu của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2006-2010, giá lúa cổng trại tăng hơn gấp rưỡi, nhưng lợi nhuận trung bình người trồng lúa thu về lại “rớt” mạnh từ trên 40% xuống trên 20%. Ngay tại ĐBSCL, thu nhập trung bình của nông dân chỉ là 535.000 đồng/tháng, bằng một nửa mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định và không nhỉnh hơn ngưỡng nghèo bao nhiêu.

Giải pháp nào?

Các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều giải pháp để nâng cấp chuỗi cung ứng lúa gạo ĐBSCL. Trong số đó, có thể kể đến việc đa dạng hóa và tăng giá trị sản phẩm, đầu tư công nghệ, phát triển các dịch vụ gia tăng giá trị, mở rộng sự tham gia vào chuỗi cung ứng gạo khu vực và toàn cầu, đầu tư vùng nguyên liệu, giảm tổn thất sau thu hoạch, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, phát triển liên kết nhóm, sử dụng các công cụ tài chính để giảm rủi ro biến
động giá...

Trong phạm vi chia sẻ một cách hợp lý các thành quả và lợi ích đạt được của chuỗi giá trị đối với chủ thể nông dân, cần lưu ý làm thế nào để tăng cường vị thế của nông dân trên thị trường và trong chuỗi cung ứng, cũng như giảm sự phụ thuộc của họ vào những yếu tố không chắc chắn. Chẳng hạn, tạo điều kiện để nông dân dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng lãi suất thấp, thậm chí không lãi suất, thông qua việc thành lập quỹ tái đầu tư cho nông dân sản xuất lúa bằng cách thu 1USD/tấn gạo xuất khẩu. Khi giải quyết được khâu vốn, nông dân có thể cắt giảm chi phí sản xuất lúa bằng cách chủ động hợp đồng và bàn vấn đề chiết khấu với các nhà cung ứng đầu vào. Để giảm phụ thuộc vào thương lái, rút ngắn kênh thị trường chuỗi, giảm tác nhân và chi phí trung gian, có thể tăng cường liên kết dọc giữa các công ty và nông dân. Hướng triển khai khả thi là mô hình bao tiêu sản phẩm bằng cách đầu tư các nhà máy liên hợp ở địa phương và xây dựng silo dự trữ lúa gạo qui mô lớn như Angimex và AGPPS đang làm. Tuy nhiên, mô hình này chỉ phát triển bền vững nếu các công ty đầu tư có chính sách cân đối lợi ích hợp lý với nông dân, kết nối và hỗ trợ trực tiếp nông dân, mua đúng giá lúa và bảo đảm cho người nông dân có lãi tối thiểu theo qui định của Nhà nước.

Về phía Nhà nước, ngoài những công tác lớn như quy hoạch, định hướng phát triển, tạo điều kiện thuận tiện cho quá trình đổi mới tổ chức sản xuất và lưu thông hàng hóa, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu..., cần có các chính sách cụ thể để bảo vệ lợi ích người nông dân trong chuỗi giá trị. Một số giải pháp cần triển khai bao gồm: kiểm soát hiệu quả chất lượng, giá cả các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên thị trường; đẩy mạnh công tác khuyến nông theo hướng hỗ trợ tích cực hơn cho việc phổ biến kỹ thuật canh tác lúa hiện đại và hướng dẫn nông dân sử dụng tiết kiệm các nguồn lực đầu vào; cải tiến cơ chế tín dụng nông thôn; hỗ trợ năng lực hoạt động và xây dựng hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử cho Hội nông dân...

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Nhiều cơ chế ưu đãi doanh nghiệp vận tải biển "vượt ải"

Ngày 22/07/2019 lúc 09:45

Bộ GTVT đề nghị Chính phủ nghiên cứu cơ chế ưu đãi về thuế, phí tạo điều kiện cho doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam...

Muốn ưu đãi thuế quan, phải tuân thủ đúng xuất xứ

Ngày 22/07/2019 lúc 09:42

Muốn được hưởng ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định FTA, doanh nghiệp phải tuân thủ đúng quy tắc xuất xứ hàng hóa – đó là nội dung được chuyên gia khuyến cáo tới DN tại Hội thảo “Cơ hội và thách thức của ngành thủy sản tại các hiệp định CPTPP và EVFTA” tổ chức ngày 17/7 tại TP.HCM.

Vietstar Airlines - hãng hàng không thứ 6 được cấp phép bay tại Việt Nam

12 Giờ trước

Cục Hàng không Việt Nam vừa chính thức cấp phép bay cho Hãng hàng không Vietstar Airlines. Đây là hãng hàng không thứ 6 được cấp phép bay ở Việt Nam.

Vốn đầu tư Trung Quốc vào Mỹ giảm 90% từ khi ông Trump làm tổng thống

12 Giờ trước

Đầu tư trực tiếp (FDI) của Trung Quốc vào Mỹ đã giảm mạnh kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump lên nắm quyền vào năm 2016, với các ngành chứng kiến lượng vốn sụt mạnh gồm bất động sản, công nghệ, ôtô và nông nghiệp.

Cần tăng kiểm tra, giám sát và nghiệm thu dự án đầu tư từ Trung Quốc

12 Giờ trước

Tại Hội thảo công bố kết quả nghiên cứu Nhận định về vốn đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam do Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) tổ chức chiều 22/7, các chuyên gia chỉ ra những đặc điểm, tình hình cũng như hệ lụy của dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc ở Việt Nam.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

33°

Mây rải rác

24/07

25° - 33°

Mưa giông

25/07

25° - 31°

Mưa giông

26/07

25° - 33°

Mưa giông rải rác

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 23/07/2019 20:54
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,077.4716,174.5216,453.11
EUR25,781.1225,858.7026,641.04
GBP28,615.2728,816.9929,079.75
JPY207.66209.76215.89
SGD16,836.5616,955.2517,144.11
THB737.04737.04767.95
USD23,155.0023,155.0023,275.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 23/07/2019 11:54
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1595016260
DO 0,001S-VVND/L1729017630
DO 0,05S-IIVND/L1699017320
E5 RON 92-IIVND/L2027020670
Xăng RON 95-IIIVND/L2123021650
Xăng RON 95-IVVND/L2138021800
Nguồn: Petrolimex