Nguồn nhân lực Việt Nam hội nhập TPP

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Khi Việt Nam tham gia hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), chắc chắn sẽ có một dòng chảy lao động nước ngoài vào thị trường trong nước từ các gói dịch vụ do nước ngoài cung cấp.

(Vietnam Logistics Review) Khi Việt Nam tham gia hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), chắc chắn sẽ có một dòng chảy lao động nước ngoài vào thị trường trong nước từ các gói dịch vụ do nước ngoài cung cấp.

Chất lượng lao động thấp là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều vị trí chủ chốt trong DN phải sử dụng người nước ngoài. Để hạn chế dòng chảy này, cách tốt nhất là nâng cao chất lượng lao động tại chỗ để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Đây không phải là vấn đề riêng của DN hay của người lao động mà đòi hỏi chiến lược tầm quốc gia.

Tiêu chuẩn quốc tế về lao động

Ngoài những tác động tích cực, thách thức của gia nhập TPP là không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh các DN và người lao động còn thiếu thông tin về TPP. Bởi lẽ nếu tham gia TPP, ngoài việc phải áp dụng các tiêu chuẩn về lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), các quốc gia thuộc TPP sẽ phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn cao hơn. Đáng lưu ý là “đảm bảo các điều kiện lao động chấp nhận được”, bao gồm tiền công tối thiểu, thời gian làm việc, an toàn vệ sinh lao động…

Về cơ bản, các nội dung cam kết trong TPP như: đảm bảo quyền tự do lập hội, đảm bảo quyền thương lượng tập thể, xóa bỏ lao động trẻ em, xóa bỏ phân biệt đối xử nam nữ… đều được quy định trong pháp luật về lao động của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tuân thủ tuyệt đối các tiêu chuẩn lao động của TPP là thách thức không nhỏ. Do trình độ của người lao động không đồng đều, năng suất và hiệu quả lao động thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực, các DN Việt Nam khó có thể thực hiện triệt để ngay tất cả các tiêu chuẩn lao động của TPP. Hơn nữa, đối với chủ sử dụng lao động, việc đảm bảo các quyền lao động cơ bản theo cam kết trong TPP sẽ làm tăng chi phí đầu vào của DN, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và lợi thế của nguồn lao động giá rẻ khiến chủ sử dụng lao động thu hẹp quy mô sản xuất, giảm cầu về lao động, dẫn tới tăng tỷ lệ thất nghiệp, ảnh hưởng tiêu cực tới tiêu dùng và sự ổn định, phát triển kinh tế.

Lợi thế nguồn nhân lực Việt Nam khi tham gia TPP

Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng: năm 2010 là 44,0 triệu đồng/người, năm 2012 là 63,1 triệu đồng/người, sơ bộ năm 2013 là 68,7 triệu đồng/ người, năm 2015 là 74,3 triệu đồng/người.

Một ưu thế khác là nước ta có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số lớn. Tại thời điểm quý II.2015 tính chung cả nước tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên là 76.2%, giảm 1.1% so với thời điểm quý I.2015. Ở khu vực thành thị là 69.1% ( giảm 1,8%), khu vực nông thôn là 79.8% ( giảm 0,9%).

Việt Nam đã phát triển được đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đông đảo. Nhiều nhà kinh tế, cán bộ khoa học của Việt Nam đã tiếp thu và tiếp cận được với nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới; nhiều công nhân, lao động Việt Nam thông qua xuất khẩu lao động và các chuyên gia nước ngoài đã có điều kiện tiếp cận được với những máy móc thiết bị hiện đại và tác phong lao động công nghiệp. Qua đó chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã được nâng cao hơn.

Người lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, khéo léo, có trình độ dân trí, học vấn khá cao so với mức thu nhập quốc dân, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới. Đây là lợi thế so sánh có ý nghĩa đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình tham gia hội nhập TPP.

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động

Một là, đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực

Tập trung hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về phát triển nhân lực. Cần hình thành cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, xây dựng hệ thống thông tin về cung - cầu nhân lực trên địa bàn cả nước nhằm bảo đảm cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới các chính sách, cơ chế, công cụ phát triển nhân lực (môi trường làm việc, chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh sống, định cư, chú ý các chính sách đối với bộ phận nhân lực chất lượng cao, nhân tài). Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực.

Hai là, bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực

Ngân sách nhà nước là nguồn lực chủ yếu để phát triển nhân lực quốc gia đến năm 2020. Tăng đầu tư phát triển nhân lực cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội. Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng tập trung chi để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án đào tạo theo mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội (hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực ở các vùng sâu, vùng xa, cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách,…). Nghiên cứu đổi mới cơ chế phân bổ và hỗ trợ bằng ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực từ hỗ trợ cho các đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng và bảo đảm công bằng giữa các cơ sở công lập và ngoài công lập.

Đẩy mạnh xã hội hóa tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực. Nhà nước có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức: Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hóa, thể dục thể thao; Góp vốn, mua công trái, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực. Cần quy định trách nhiệm của DN đối với sự phát triển nhân lực, tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế, chính sách mạnh để DN thuộc mọi thành phần kinh tế tăng đầu tư phát triển nhân lực nói chung và đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề nói riêng. Mở rộng các hình thức tín dụng ưu đãi cho các cơ sở giáo dục, đào tạo và cho học sinh, sinh viên để học nghề, học đại học, cao đẳng, hỗ trợ người lao động học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ.

Đẩy mạnh và tạo cơ chế phù hợp để thu hút các nguồn vốn nước ngoài cho phát triển nhân lực Việt Nam; sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của nước ngoài hỗ trợ phát triển nhân lực (ODA); thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) của nước ngoài cho phát triển nhân lực (đầu tư trực tiếp xây dựng các cơ sở giáo dục, đào tạo, bệnh viện, trung tâm thể thao..).

Ba là, đổi mới giáo dục và đào tạo

Đây là nhiệm vụ then chốt, giải pháp chủ yếu để phát triển nhân lực Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 và những thời kỳ tiếp theo. Cần quán triệt và triển khai quyết liệt Nghị quyết số 29-NQ/ TW ngày 04.11.2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09.6.2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trước mắt, cần tập trung vào một số nội dung sau đây:

Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông, khung chương trình đào tạo ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tăng thời gian thực hành, tập trung vào những nội dung, kỹ năng người học, DN và xã hội cần, đảm bảo liên thông giữa các bậc học, cấp học, giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Đổi mới chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào giáo dục và đào tạo. Đặc biệt chú trọng việc tổ chức sắp xếp lại và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với các trường sư phạm trên phạm vi cả nước.

Bốn là, chủ động hội nhập quốc tế

Xây dựng, thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân lực phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam. Thiết lập khung trình độ quốc gia phù hợp với khu vực và thế giới. Tham gia kiểm định quốc tế chương trình đào tạo. Thực hiện đánh giá và quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết, trao đổi về giáo dục và đào tạo đại học, sau đại học và các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, công nghệ giữa các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và thế giới.

Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà giáo, nhà khoa học có tài năng và kinh nghiệm của nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực đại học và nghiên cứu khoa học, công nghệ tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội, kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm xây dựng một số trường đại học, cao đẳng và dạy nghề đạt chuẩn quốc tế. Thu hút các trường đại học, dạy nghề có đẳng cấp quốc tế vào Việt Nam hoạt động. Tăng cường dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), văn hóa thế giới, kỹ năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh quốc tế cho người Việt Nam.

Để thực hiện thành công các giải pháp trên, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm cho cán bộ, công chức của toàn bộ hệ thông chính trị các cấp, các tầng lớp nhân dân, các nhà trường, các DN, tổ chức hiểu rõ vai trò và trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực, biến thách thức về nhân lực thành lợi thế để phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Hàng về Cái Mép cao hơn về Cát Lái 100 USD mỗi container?

Ngày 18/04/2019 lúc 08:20

Ngày 17/4, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các ngành liên quan đã cùng nhau bàn các giải pháp để nâng cao năng suất, tăng lượng hàng qua hệ thống cảng container nước sâu tại tỉnh này.

Giải pháp trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container đường biển

Ngày 18/04/2019 lúc 09:04

Ngày 15/4, Tập đoàn Kuehne + Nagel cho ra mắt sản phẩm KN Pledge – giải pháp vận tải đường biển trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container.

BOT Trung Lương - Mỹ Thuận: “Thông trách nhiệm” để không lỗi hẹn thêm lần nữa

11 Giờ trước

Sau khi nhận lời mời của Công ty Cổ phần BOT Trung Lương – Mỹ Thuận tham gia nâng cao năng lực quản trị dự án cao tốc này, ngay lập tức, Tập đoàn Đèo Cả đã “nhập cuộc” bằng việc rốt ráo thực hiện một loạt bước đi nhằm tái khởi động dự án bị đình trệ tới 10 năm qua.

The Guiding Star 2019: Tìm kiếm hướng dẫn viên du lịch tài năng

18 Giờ trước

Sáng ngày 20/4, tại trường đại học Hoa Sen, cuộc thi The Guiding Star mùa 2 chính thức khởi động cuộc đua tìm kiếm hướng dẫn viên du lịch tài năng.

Nền kinh tế tuần hoàn cho một thế giới kinh doanh bền vững

Ngày 20/04/2019 lúc 15:14

Ngày 19/4, Đại sứ Vương quốc Hà Lan đã tổ chức Lễ bế mạc chương trình Orange ASEAN Factory (OAF) tại TP. HCM. Những thành viên tham dự chương trình đã làm việc trong ba tuần qua về sáu mô hình kinh doanh bền vững của Unilever, De Heus, DSM, Philips và CleanDye tại văn phòng của AkzoNobel tại Việt Nam.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

29°

Mây rải rác

23/04

28° - 36°

Nắng ấm

24/04

28° - 37°

Nhiều mây

25/04

28° - 38°

Nhiều mây

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 22/04/2019 01:55
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,400.1916,499.1916,679.39
EUR25,879.7825,957.6526,606.06
GBP29,806.5930,016.7130,283.90
JPY204.34206.40214.04
SGD16,916.1817,035.4317,221.48
THB715.10715.10744.93
USD23,155.0023,155.0023,255.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 21/04/2019 23:55
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1626016580
DO 0,001S-VVND/L1768018030
DO 0,05S-IIVND/L1738017720
E5 RON 92-IIVND/L1970020090
Xăng RON 95-IIIVND/L2123021650
Xăng RON 95-IVVND/L2138021800
Nguồn: Petrolimex