Thứ sáu, 17/09/2021Hotline: 0816 886 786Quảng cáo

Để kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Một trong ba nghị quyết về kinh tế được ban hành tại Hội nghị Trung ương 5 vừa qua nhấn mạnh đến việc phát triển kinh tế tư nhân (KTTN). Bài viết này bàn thêm về một số nội dung tưởng rằng đã cũ nhưng thực ra luôn luôn mới: Phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế như thế nào?

(Vietnam Logistics Review) Một trong ba nghị quyết về kinh tế được ban hành tại Hội nghị Trung ương 5 vừa qua nhấn mạnh đến việc phát triển kinh tế tư nhân (KTTN). Bài viết này bàn thêm về một số nội dung tưởng rằng đã cũ nhưng thực ra luôn luôn mới: Phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế như thế nào?

Nhận diện kinh tế tư nhân

Nói một cách khái quát, KTTN là khu vực kinh tế nằm ngoài khu vực kinh tế nhà nước, không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất, kinh doanh. Đây là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, tồn tại dưới các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và các hộ kinh doanh cá thể. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cũng thuộc khu vực KTTN. Tuy nhiên, do những khác biệt trong cơ chế điều hành, người ta thường phân biệt khu vực kinh tế tư nhân với khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI.

Có một quy luật phổ biến mà không phải ai cũng nhìn thấy, đó là tất cả các nước phát triển đều dựa vào doanh nghiệp tư nhân. Về mặt bản chất, KTTN hình thành và phát triển một cách tự nhiên, khác với kinh tế nhà nước thực ra là “nhân tạo”, xuất phát từ các định kiến nhìn KTTN như là nguồn gốc của mọi sự bóc lột, bất công. Đặc trưng mang tính bản chất của những doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN là họ sử dụng nguồn vốn của chính họ và có quyền được hưởng thành quả lao động mà họ làm ra. Đó là cơ chế tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh. Cơ chế đó gắn lợi ích với năng lực hoạt động, nên luôn tạo động lực cho các cá nhân hướng tới kết quả cao.

Vai trò của KTTN đã được nhắc đến nhiều trong các nghị quyết, hội nghị, hội thảo. Nhìn chung, KTTN có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế như góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của toàn xã hội nhờ hàng hóa và dịch vụ ngày càng tăng cả về lượng và chất; nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, làm cho hoạt động kinh tế năng động hơn; mở rộng thị trường ra thế giới, giải quyết công ăn việc làm…

Về hiện trạng, theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cả nước hiện có khoảng 500.000 DN tư nhân trong tổng số khoảng 600.000 DN. Trong số đó, có tới 96% là DN có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chỉ có khoảng 2% DN quy mô vừa và 2% DN lớn. Nhược điểm phổ biến của các DN vừa và nhỏ là quy mô và nội lực còn nhỏ và yếu, năng lực cạnh tranh thấp, trình độ công nghệ thấp và chậm đổi mới, chất lượng sản phẩm chưa cao, năng lực quản trị còn nhiều hạn chế. Đó là chưa kể họ ít được tiếp cận với những chính sách hỗ trợ và các chương trình ưu đãi của Chính phủ, ít được hỗ trợ về thông tin thị trường và khó tiếp cận các nguồn vốn. Đối với các DN lớn, một vài DN đã hình thành và ngày càng mang vóc dáng của một tập đoàn như Vingroup, Hòa Phát, TH True Milk, Masan, SunGroup… Tuy nhiên, khác với việc hình thành tập đoàn ở các nước khác chủ yếu dựa vào công nghệ và phát triển thị trường, phần lớn các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam phát triển gắn với bất động sản hoặc khai thác tài nguyên khoáng sản.

Trở thành động lực quan trọng

Nói KTTN trở thành động lực, nghĩa là khu vực này phải trở thành một trong những đầu tàu kéo toàn bộ “con tàu” kinh tế tiến lên phía trước. Điều đó chỉ thực hiện được khi đầu tàu đủ mạnh, con tàu không chứa đựng quá nhiều sức ỳ và đường ray thông thoáng. Chúng ta hãy thử đưa ra một vài phân tích theo ba góc độ vừa nêu.
Thứ nhất, để đầu tàu đủ mạnh, tức là khu vực KTTN phát triển, phải quan tâm đến sự phát triển của cả các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn cũng như các DN vừa và nhỏ. Trong thực tế ở Việt Nam, vẫn còn nghịch lý là các tập đoàn kinh tế tư nhân nhận được nhiều ưu đãi hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn, đất đai, tài nguyên… so với các DN quy mô nhỏ. Để tiếp cận với những tài nguyên này, DN thường phải xây dựng mối quan hệ đặc biệt tốt với các cơ quan và quan chức nhà nước có thẩm quyền, dễ tạo ra chủ nghĩa thân hữu, bè phái hay nhóm lợi ích. Trong khi đó, không ít DN nhỏ hoạt động thiếu ổn định, bền vững, thậm chí bị thua lỗ, giải thể, phá sản, vì thiếu môi trường thuận lợi để hoạt động. Nếu liên kết các DN nhỏ với các thành phần kinh tế khác, tạo điều kiện để họ tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất trong nước và nước ngoài, đồng thời trở thành thị trường quan trọng tiêu thụ hoặc tham gia phân phối các sản phẩm của các tập đoàn kinh tế tư nhân, sức mạnh của khu vực KTTN sẽ tăng lên đáng kể.

Thứ hai, để con tàu - nền kinh tế không chứa đựng quá nhiều sức ỳ, cần xóa bỏ các rào cản phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế nhà nước và giữa DN FDI với khu vực KTTN, trong việc phân bổ các nguồn lực quan trọng của quốc gia. Nếu khu vực kinh tế Nhà nước vẫn được coi là chủ đạo và được ưu tiên phân bổ hơn một nửa nguồn lực quốc gia như từ trước đến nay, trong khi nhiều tập đoàn lớn làm ăn không hiệu quả, thậm chí thua lỗ triền miên, khu vực KTTN khó mà đảm nhận trọng trách “đầu tàu”. Cùng với việc đổi mới, cải cách DN nhà nước cần tạo ra thị trường bình đẳng và cơ hội tiếp cận công bằng các nguồn lực giữa các thành phần kinh tế. Chẳng hạn, với rất nhiều hạng mục mua sắm, Nhà nước có thể đặt hàng và thực hiện theo cơ chế đấu thầu bình đẳng đối với tất cả loại hình DN, chứ không phải chỉ giao cho DN nhà nước thực hiện một cách nhập nhằng và bất bình đẳng như trước.

Thứ ba, để đường ray thông thoáng, chính là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tức là làm thế nào để nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường. Các nhiệm vụ và giải pháp cho vấn đề chiến lược này, bao gồm cả việc chuyển đổi chức năng quản lý của Nhà nước, hoàn thiện bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính… đã được đề xuất khá nhiều, không cần thiết nhắc lại ở đây.

Số liệu của Tổng cục Thống kê năm ngoái cho thấy, trong giai đoạn 2006-2015, khu vực KTTN đóng góp hơn 40% GDP cả nước, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ, 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa vận chuyển. Đặc biệt, khu vực KTTN thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm.


Điều bất cập là trong khi cả khu vực KTTN đóng góp 39-40% GDP thì riêng kinh tế hộ cá thể đã chiếm 31,33%. Những DN lớn tuy góp tỷ trọng GDP nhỏ, nhưng lại hưởng thụ nhiều lợi thế về cơ chế vì có thương hiệu và mối quan hệ thân hữu.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Hãng tàu CMA-CGM cam kết không tăng giá cước vận tải container

Ngày 14/09/2021 lúc 07:15

Trong buổi làm việc trực tuyến với Cục Hàng hải Việt Nam, đại diện hãng tàu CMA-CGM tại Việt Nam đưa ra cam kết với khách hàng về việc không tăng giá cước vận tải container.

Giảm diện tích 2 khu công nghiệp tại tỉnh Thái Bình

14 Giờ trước

Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến về việc điều chỉnh quy hoạch các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

Biến nguy thành cơ

14 Giờ trước

Dịch bệnh tấn công, giãn cách, phong tỏa ở hầu hết các trung tâm kinh tế quan trọng của đất nước nhiều tháng liền và chưa biết bao giờ khống chế được. Câu hỏi đặt ra lúc này cho các doanh nghiệp Việt là thoát ra khỏi cơn khủng hoảng như thế nào?

Các ứng dụng khẳng định sẵn sàng ship liên quận ở TP. HCM từ 16/9

20 Giờ trước

Trước thời điểm 6h ngày 16/9, hàng loạt các ứng dụng đã gửi thông báo tới người dùng về việc mở lại dịch vụ giao hàng và đồ ăn mang đi liên quận, huyện tại TP. HCM.

Thời tiết

Hiện tại

°

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 16/09/2021 23:00
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,283.5416,448.0216,963.88
EUR26,213.4026,478.1827,577.66
GBP30,714.6731,024.9131,997.94
JPY202.85204.90214.59
SGD16,552.0316,719.2317,243.59
THB612.45680.50706.07
USD22,630.0022,660.0022,860.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 16/09/2021 23:15
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1508015380
DO 0,001S-VVND/L1637016690
DO 0,05SVND/L1602016340
Xăng E5 RON 92-IIVND/L2014020540
Xăng RON 95-II,IIIVND/L2139021810
Xăng RON 95-IVVND/L2149021910
Nguồn: Petrolimex