Thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm từ Hàn Quốc (Phần 1)

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Trong quá trình phát triển, Hàn Quốc đã thực hiện đồng bộ và có hiệu quả nhiều chính sách về kinh tế, xã hội. Điều này đã giúp Hàn Quốc trở thành một trong số ít các quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở thành một nước phát triển. Các kinh nghiệm này thực sự là bài học có giá trị đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay.

(Vietnam Logistics Review) Trong quá trình phát triển, Hàn Quốc đã thực hiện đồng bộ và có hiệu quả nhiều chính sách về kinh tế, xã hội. Điều này đã giúp Hàn Quốc trở thành một trong số ít các quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở thành một nước phát triển. Các kinh nghiệm này thực sự là bài học có giá trị đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay.

Khái niệm “Bẫy thu nhập trung bình” lần đầu tiên được Indermit Gill và Homi Kharas, chuyên gia về kinh tế phát triển của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra để chỉ tình trạng suy giảm tăng trưởng kinh tế xuất hiện tại những nước đang phát triển ở Đông Á, khiến cho những nước này sau một thời gian tăng trưởng với tốc độ cao đã vươn lên đạt đến mức thu nhập trung bình thì không thể trở thành nước có thu nhập cao trong nhiều thập kỷ sau đó do tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm (Gill và Kharas, 2007). Do vậy, việc thoát khỏi Bẫy thu nhập trung bình có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia trên con đường phát triển. Bài viết này đề cập đến kinh nghiệm của Hàn Quốc, một trong số ít các quốc gia đã làm được điều này, là cơ sở để vận dụng triển khai tại Việt Nam.

Hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô

Nhiệm vụ quan trọng nhất của các chính sách kinh tế vĩ mô tại Hàn Quốc những năm 1980 là vực dậy nền kinh tế đất nước sau thời kỳ khủng hoảng cuối những năm 70 do nhiều nguyên nhân: cuộc khủng hoảng giá dầu lần hai làm xấu đi cán cân thương mại và cán cân thanh toán, lãi suất tăng làm gánh nặng nợ tăng, mất mùa năm 1980 và biến cố chính trị gây tâm lý hoang mang... Chính phủ Hàn Quốc phải tìm cách giảm tỷ lệ lạm phát cao quá mức kiểm soát (26% năm 1978), cán cân thanh toán thâm hụt, xuất khẩu sụt giảm mạnh, sự phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn và bất bình đẳng thu nhập...

Năm 1980, Hàn Quốc có 54 doanh nghiệp có phòng thí nghiệm thì năm 1995 số lượng này tăng lên đến 2.260 doanh nghiệp. Trong đó, hơn hai phần ba cơ sở R&D thuộc về các SME.

Chính phủ mới giai đoạn này đã đề ra các chính sách ổn định kinh tế: chính sách tài khóa thắt chặt, chính sách tiền công và chính sách tài chính - tín dụng. Cụ thể, các khoản chi tiêu công bị cắt giảm, bộ máy chính quyền cồng kềnh được tái cấu trúc trở nên gọn nhẹ, nhiều khoản trợ cấp bị cắt bỏ, các khoản đầu tư cho những dự án của chính phủ bị cắt giảm, những doanh nghiệp nhà nước được tái cơ cấu để giảm vai trò của nhà nước. Những năm 1970, Hàn Quốc cũng gặp phải thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia bị bào mòn do tiền công tăng cao hơn năng suất lao động. Để khắc phục vấn đề này, các chính sách ổn định kinh tế những năm 1980 đã can thiệp nhiều hơn vào việc quyết định và kiểm soát mức tiền công, đồng thời ngăn chặn các phản ứng đòi tăng lương của công đoàn và các bên liên quan khác. Các doanh nghiệp tư nhân (DNTN), đặc biệt là các tập đoàn lớn của Hàn Quốc giai đoạn này đã bộc lộ những yếu kém trong cấu trúc tài chính của mình. Chính sách tài chính và tín dụng đã hỗ trợ các doanh nghiệp này về tài chính, đồng thời cứu trợ các tập đoàn có nguy cơ phá sản. Ngoài ra, chính sách ổn định còn bao gồm mở cửa nền kinh tế, dỡ bỏ hàng rào nhập khẩu và giảm mức độ kiểm soát của chính phủ lên các ngân hàng thương mại.

Chính sách ổn định kinh tế của Hàn Quốc đã thành công trong việc kiềm chế lạm phát và phục hồi tốc độ tăng trưởng. Trong giai đoạn 1982 - 1986, chính phủ nước này đã nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn, mở rộng các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, thông tin liên lạc ở các vùng nông thôn kém phát triển và đẩy mạnh cơ giới hóa nền nông nghiệp. Tuy thực hiện chính sách mở cửa và tự do hóa, nhưng Hàn Quốc vẫn duy trì cơ chế bảo hộ gắt gao nền nông nghiệp trong nước. Nền công nghiệp cũng được đầu tư phát triển mạnh khi chính phủ nước này ban hành các chính sách thúc đẩy sản xuất trong nước theo hướng xuất khẩu, thâm dụng vốn, giá trị gia tăng cao và có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao. Trong khi đó những ngành công nghiệp nặng như sản xuất ô tô và đóng tàu vẫn được duy trì. Sự hỗ trợ của chính phủ dành cho các chaebol (các tập đoàn kinh tế gia đình) cũng giảm dần, thay vào đó là chính sách tái phân phối thu nhập và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), thông qua việc thành lập Cơ quan quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Business Administration - SMBA).

Sự năng động của khu vực tư nhân

Các DNTN của Hàn Quốc gồm hai bộ phận chính đóng góp lớn vào sự phát triển của đất nước: các doanh nghiệp lớn (LE) hay còn gọi là chaebol và các SME. Trước năm 1980 cho đến năm 1985, các chaebol đã chi phối nền kinh tế, đóng góp 49% vào GDP, 24% tổng doanh số, 18% lao động khu vực sản xuất, và hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù mô hình kinh doanh của chaebol có nhiều nhược điểm và kém linh hoạt, không quay vòng vốn nhanh như SME, song các chaebol đã và đang tiếp tục là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Hàn Quốc với kinh nghiệm quản lý lâu dài, lợi thế theo quy mô, sức mạnh thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc tế.

Đến giữa những năm 1980, các chính sách ưu tiên cho LE đã dẫn đến sự mất cân bằng và hạn chế của các doanh nghiệp này, chủ yếu là do quá trình mở rộng đầu tư không hiệu quả, xuất khẩu giảm, cấu trúc vốn bất hợp lý và những khoản nợ lớn không thể trả, dẫn đến hàng loạt các chaebol bị phá sản như Kukje, Daewoo... Nhận thấy thực trạng này, chính phủ đã chuyển hướng tập trung hỗ trợ các SME. Có thể nói động lực chính tạo nên tăng trưởng của khối DNTN nói riêng và nền kinh tế Hàn Quốc nói chung trong giai đoạn 1980 - 1995 là các LE, song các SME mới được xem là nguồn lực mới trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước. SME đã đóng vai trò quan trọng trong tuyển dụng việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua đổi mới công nghệ và cải tiến chất lượng sản phẩm. Năm 1999, tất cả các SME có quy mô từ 1 đến 299 nhân viên đã chiếm 99,7% tổng số doanh nghiệp mới thành lập. Các công ty này tuyển dụng 81,9% tổng số lao động. Trong ngành sản xuất, tỷ lệ SME chiếm 99,7% tổng số doanh nghiệp và 74,3% tổng số lao động. SME đóng góp 50% giá trị gia tăng tại Hàn Quốc.

Để chuẩn bị cho quá trình nội lực hóa năng lực R&D của mình, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã thực hiện tiếp thu công nghệ từ nước ngoài từ những năm 1960, thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ với Mỹ và Nhật Bản, tổng cộng 2.281 hợp đồng trong giai đoạn 1962 - 1980 để đổi lấy ưu đãi trong thương mại, nhà máy và trang thiết bị từ Hàn Quốc.

Đầu những năm 1980, các DNTN Hàn Quốc đã tương đối phát triển và chú trọng đến việc nâng cao năng lực R&D (nghiên cứu & phát triển) riêng để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Các hoạt động và thành tựu R&D của khu vực tư nhân tăng mạnh và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các hoạt động R&D của toàn xã hội. Các công ty đầu tư mạnh cho những phòng thí nghiệm phát triển sản phẩm. Đối tượng được ưu tiên hàng đầu là các sản phẩm điện tử gia dụng, các chip bán dẫn và điện thoại di động... Năm 1980, có 54 doanh nghiệp có phòng thí nghiệm thì năm 1995 số lượng này tăng lên đến 2.260 doanh nghiệp. Trong đó, hơn hai phần ba cơ sở R&D thuộc về các SME. Để chuẩn bị cho quá trình nội lực hóa năng lực R&D của mình, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã thực hiện tiếp thu công nghệ từ nước ngoài từ những năm 1960, thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ với Mỹ và Nhật Bản, tổng cộng 2.281 hợp đồng trong giai đoạn 1962 - 1980 để đổi lấy ưu đãi trong thương mại, nhà máy và trang thiết bị từ Hàn Quốc. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nước này cũng cử các nhà nghiên cứu ra nước ngoài để học hỏi công nghệ hiện đại. Nhờ đó, khả năng sáng chế của doanh nghiệp trong nước đã tăng nhanh, nhất là ở các tập đoàn lớn. Đến năm 2004, công ty Samsung Electronics đã được văn phòng phát minh và sáng chế của Mỹ cấp 1.604 bằng sáng chế, đứng thứ sáu toàn cầu.

(Còn tiếp)

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Thaco đầu tư xây dựng 4 dự án trọng điểm

Ngày 25/03/2019 lúc 10:14

Ngày 24/3/2019, Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải (THACO) đã tổ chức lễ khởi công 4 dự án lớn gồm Khu công nghiệp Nông - Lâm nghiệp; KCN cơ khí và ô tô Thaco Chu Lai mở rộng; Dự án Đầu tư xây dựng bến cảng 5 vạn tấn và Khu nhà ở công nhân, tái định cư trong Khu kinh tế mở (KTM) Chu Lai. Đây là những dự án trọng điểm mang tính chiến lược cho giai đoạn phát triển mới theo hướng đa ngành của THACO và giai đoạn đầu tư mới của THACO tại Khu KTM mở Chu Lai.

Kim ngạch xuất nhập khẩu cán mốc 100 tỷ USD sau gần 3 tháng

16 Giờ trước

Tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu tháng 3/2019 đã tăng 13,6%, tương ứng tăng 1,31 tỷ USD so với nửa cuối tháng 2/2019. Luỹ kế từ đầu năm đến hết ngày 15/3/2019, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 47 tỷ USD, tăng 5,4%, tương ứng tăng 2,4 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2018.

Apple trình làng dịch vụ truyền hình trực tuyến mới

21 Giờ trước

Ngày 26/3, Apple trình làng một dịch vụ truyền hình trực tuyến mới cho phép người dùng của 1,4 tỷ thiết bị điện tử trên toàn thế giới truyền dữ liệu về các bộ phim và các chương trình truyền hình.

Thủ tướng muốn VISA hỗ trợ Việt Nam phát triển thanh toán điện tử

22 Giờ trước

Thủ tướng khẳng định, Việt Nam đang có mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng, là điều kiện thuận lợi để VISA mở rộng làm ăn tại Việt Nam.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

29°

Mây rải rác

28/03

27° - 38°

Nhiều mây

29/03

27° - 39°

Nhiều mây

30/03

27° - 41°

Nhiều mây

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 27/03/2019 05:53
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,322.0516,420.5716,599.91
EUR26,034.3926,112.7326,765.02
GBP30,240.8930,454.0730,725.17
JPY203.55205.61211.57
SGD16,967.7617,087.3717,273.99
THB718.41718.41748.37
USD23,150.0023,150.0023,250.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 26/03/2019 23:53
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1488015170
DO 0,001S-VVND/L1606016380
DO 0,05S-IIVND/L1586016170
E5 RON 92-IIVND/L1721017550
Xăng RON 95-IIIVND/L1854018910
Xăng RON 95-IVVND/L1869019060
Nguồn: Petrolimex