Thứ tư, 25/11/2020Hotline: 0906 779982Quảng cáo

Sân bay Việt Nam & sự tương tác trong khu vực

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Hiện nay, nhà nước đang nỗ lực để nâng cấp và mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất cùng lúc với việc hình thành sân bay Long Thành. Trong quá trình này, một vấn đề đặt ra là sân bay mới cần có quy mô như thế nào là phù hợp?

(Vietnam Logistics Review) Hiện nay, nhà nước đang nỗ lực để nâng cấp và mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất cùng lúc với việc hình thành sân bay Long Thành. Trong quá trình này, một vấn đề đặt ra là sân bay mới cần có quy mô như thế nào là phù hợp?

Nhiều ý kiến lo ngại là sân bay của Việt Nam (hoặc sân bay Tân Sơn Nhất hoặc sân bay Long Thành) phải cạnh tranh với các sân bay trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, có cạnh tranh hay không là điều cần phải được nghiên cứu một cách khách quan và khoa học. Việc hiểu biết về sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của các sân bay trong khu vực, trong cự li gần là rất cần thiết để đưa ra phương án phát triển phù hợp cho ngành hàng không Việt Nam. Bài viết này nhằm làm rõ tình hình tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của các sân bay trong khu vực ASEAN và sân bay Hong Kong, đồng thời đề xuất phương hướng cần hành động cho sân bay của Việt Nam trong mối tương quan với các sân bay khác trong khu vực.

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu tình hình phát triển của các sân bay thông qua lượng hành khách qua các năm. Qua hình 1 có thể thấy, sân bay Hong Kong hiện đang là sân bay có lượng hành khách lớn nhất trong khu vực, đạt 70,3 triệu lượt hành khách vào năm 2016. Trong khu vực ASEAN sân bay Changi (Singapore) là sân bay có lượt hành khách cao nhất đạt 58,69 triệu lượt người năm 2016. Trong khi đó, sân bay Tân Sơn Nhất của Việt Nam tiếp nhận 32,48 triệu lượt hành khách năm 2016.

Hình 1. Số lượt khách qua các sân bay ASEAN và Hong Kong từ 2010 đến 2016 (Nguồn Wikipedia “List of busiest airports by passenger traffic”)

Xét về tốc độ tăng trưởng, sân bay Tân Sơn Nhất (Việt Nam), sân bay Hong Kong và sân bay Ninoy Aquino (Philippines) có tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định (số liệu về tốc độ tăng trưởng lớn hơn 0% khá đều đặn). Trong khi đó, một số sân bay tốc độ tăng có những năm âm, tức là số lượt hành khách giảm so với năm trước đó như sân bay Suvarnabhumi (Thái Lan) và sân bay Soekarno (Indonesia). Điều này cho thấy sự phát triển của các sân bay có sự giảm sút chứ không chỉ tăng lên.

Để nhận diện được tác động qua lại giữa các sân bay trong khu vực ASEAN và có tính đến sân bay Hong Kong tác giả sử dụng phương pháp tính hệ số tương quan. Kết quả từ bảng 2 cho thấy nhìn chung, các sân bay trong khu vực ASEAN có những tác động mang tính tương hỗ, tức là có những ảnh hưởng tích cực lẫn nhau, cùng phát triển và không có cạnh tranh lẫn nhau. Điều này thể hiện qua hệ số tương quan giữa các sân bay trong khu vực là dương (>0). Duy chỉ có sân bay Kuala Lumpur (Malaysia) là có tương quan âm với sân bay Suvarnabhumi (Thái Lan) và sân bay Ninoy Aquino (Philippines), cho thấy giữa các sân bay này dường như có sự cạnh tranh tương đối với nhau với hệ số tương quan lần lượt là -0,416 và -0,418.

Trong khi đó, hệ số tương quan giữa sân bay Hong Kong với các sân bay trong khu vực ASEAN đều là âm (<0), tức là có sự tương tác cạnh tranh giữa sân bay Hong Kong với các sân bay trong khu vực ASEAN. Và sự cạnh tranh của sân bay Hong Kong thể hiện rõ nhất là cạnh tranh với sân bay Changi (Singapore) với hệ số tương quan là -0,735. Như vậy, có thể thấy là có sự cạnh tranh khá mạnh giữa hai sân bay lớn và hiện đại nhất trong số các sân bay đang xét. Riêng với sân bay Tân Sơn Nhất thì có mối quan hệ tương hỗ cùng phát triển với các sân bay khác trong khu vực ASEAN chứ không có sự cạnh tranh. Riêng về mối quan hệ với sân bay Kuala Lumpur (Malaysia) thì sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay này không có sự ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Trong khi đó, xét mối tương quan giữa sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Hong Kong thì có sự cạnh tranh ở mức vừa phải giữa hai sân bay với hệ số là -0,399.

Lượng hành khách qua các sân bay thông thường có thể phản ánh được tình trạng năng động và khả năng cạnh tranh của điểm đến đó. Số liệu cho thấy sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau ở tầm vĩ mô của các sân bay trong khu vực ASEAN và sân bay Hong Kong. Các sân bay trong khu vực ASEAN dường như vận hành đúng như mong muốn của Hiệp hội ASEAN là cùng nhau hỗ trợ phát triển vì một ASEAN thống nhất trong đa dạng. Tình trạng này sẽ rất có lợi cho các quốc gia ASEAN trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển ngành hàng không nói riêng. Các sân bay ASEAN không bị mất chi phí và tiêu hao lợi ích trong quá trình phát triển và rất được lợi. Mặc dù vậy, trong kinh tế thì thường sẽ có sự cạnh tranh và sự cạnh tranh đối với các sân bay ASEAN là từ sân bay Hong Kong. Điều này cũng là bình thường vì sân bay Hong Kong ở một vị trí như một điểm đến khác, mang tính cạnh tranh với các điểm đến trong khu vực ASEAN. Các điểm đến ASEAN thì thường sẽ có những lực hút mang tính tổng hợp của cộng đồng ASEAN và do đó có sự nối kết mang tính cộng hưởng giữa các điểm đến.

Đối với sân bay Tân Sơn Nhất, trong những năm qua có sự tăng trưởng về lượng hành khách khá ấn tượng và xét trong mối tương quan với các sân bay trong khu vực thì cũng có những ảnh hưởng qua lại mang tính tích cực. Đây là điều rất thuận lợi trong quá trình phát triển của sân bay trong khu vực ASEAN. Tuy chỉ xếp sau cùng trong các sân bay được xét đến, nhưng sân bay Tân Sơn Nhất có mối quan hệ khá ổn định với sự vận hành của các sân bay khác và phát triển với tốc độ tương đối cao. Điều này là rất thuận lợi cho sân bay Tân Sơn Nhất trong quá trình phát triển và để phát triển hơn nữa, sân bay Tân Sơn Nhất cần có chính sách hợp tác tốt và chặt chẽ hơn với các sân bay trong khu vực ASEAN (ví dụ chính sách visa, thủ tục nhập cảnh liên thông hay mức phí sân bay ưu đãi…) để hình thành một chiến lược phát triển điểm đến Việt Nam, một thành phần trong một tổng thể khu vực ASEAN, phù hợp với những mối quan hệ và các tương tác tích cực được hình thành trong quá trình phát triển của các sân bay trong khu vực ASEAN.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Cơ hội thiết lập thị trường xuất khẩu ổn định

Ngày 23/11/2020 lúc 09:08

Ngày 15/11, Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) chính thức được ký. Khi được cả 15 thành viên thực thi, Hiệp định sẽ tạo nên một thị trường có quy mô 2,2 tỷ người tiêu dùng, GDP 26,2 nghìn tỷ USD, trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới. Đây là cơ hội để các doanh nghiệp (DN) Việt Nam tham gia và phát triển các chuỗi cung ứng mới trong khu vực, đồng thời thiết lập thị trường xuất khẩu ổn định lâu dài.

Nhiều mặt hàng dệt may Việt xuất sang Châu Âu đứng trước nguy cơ áp thuế

6 Giờ trước

Bộ Công Thương vừa cho biết đã nhận được công hàm của Ủy ban Kinh tế Á Âu (EEC) cảnh báo về việc các mặt hàng dệt may của Việt Nam hưởng ưu đãi thuế quan xuất khẩu vào Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU) theo Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á Âu (VN-EAEU FTA) có nguy cơ vượt mức ngưỡng (trigger level) áp dụng biện pháp phòng vệ năm 2020 theo quy định VN-EAEU FTA.

Cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 19,42 tỷ USD

6 Giờ trước

Số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 11/2020 (từ ngày 1 - 15/11/2020) đạt 23,15 tỷ USD, giảm 13,8% (tương ứng giảm 3,71 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 10/2020.

Thanh Hóa: ưu tiên sử dụng vốn đầu tư công cho các dự án trọng điểm

7 Giờ trước

Với 320 tỷ đồng từ các nguồn vốn để khởi công mới và chuẩn bị đầu tư, tỉnh Thanh Hóa sẽ ưu tiên 3 dự án lớn là tuyến đường kết nối từ xã Hoằng Kim, huyện Hoằng Hóa đi xã Thiệu Long (huyện Thiệu Hóa); tuyến đường kết nối giữa thị xã Bỉm Sơn và huyện Nga Sơn; tuyến đường 513 ở thị xã Nghi Sơn...

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

33°

Mây rải rác

26/11

23° - 34°

Mây rải rác

27/11

24° - 34°

Mưa giông vào buổi chiều

28/11

24° - 33°

Mưa giông vào buổi chiều

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 25/11/2020 14:57
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
USD23,040.0023,070.0023,250.00
AUD16,615.0016,782.8217,308.92
EUR26,852.6327,123.8728,222.17
GBP30,162.0930,466.7531,421.80
JPY214.22216.38225.37
SGD16,830.5017,000.5117,533.42
THB675.69750.76778.96
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 25/11/2020 11:57
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏa 2-KVND/L95609750
DO 0,001S-VVND/L1118011400
DO 0,05S-IIVND/L1083011040
E5 RON 92-IIVND/L1388014150
Xăng RON 95-IIIVND/L1470014990
Xăng RON 95-IVVND/L1480015090
Nguồn: Petrolimex