Sân bay Việt Nam & sự tương tác trong khu vực

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Hiện nay, nhà nước đang nỗ lực để nâng cấp và mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất cùng lúc với việc hình thành sân bay Long Thành. Trong quá trình này, một vấn đề đặt ra là sân bay mới cần có quy mô như thế nào là phù hợp?

(Vietnam Logistics Review) Hiện nay, nhà nước đang nỗ lực để nâng cấp và mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất cùng lúc với việc hình thành sân bay Long Thành. Trong quá trình này, một vấn đề đặt ra là sân bay mới cần có quy mô như thế nào là phù hợp?

Nhiều ý kiến lo ngại là sân bay của Việt Nam (hoặc sân bay Tân Sơn Nhất hoặc sân bay Long Thành) phải cạnh tranh với các sân bay trong khu vực ASEAN. Tuy nhiên, có cạnh tranh hay không là điều cần phải được nghiên cứu một cách khách quan và khoa học. Việc hiểu biết về sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của các sân bay trong khu vực, trong cự li gần là rất cần thiết để đưa ra phương án phát triển phù hợp cho ngành hàng không Việt Nam. Bài viết này nhằm làm rõ tình hình tác động và ảnh hưởng lẫn nhau của các sân bay trong khu vực ASEAN và sân bay Hong Kong, đồng thời đề xuất phương hướng cần hành động cho sân bay của Việt Nam trong mối tương quan với các sân bay khác trong khu vực.

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu tình hình phát triển của các sân bay thông qua lượng hành khách qua các năm. Qua hình 1 có thể thấy, sân bay Hong Kong hiện đang là sân bay có lượng hành khách lớn nhất trong khu vực, đạt 70,3 triệu lượt hành khách vào năm 2016. Trong khu vực ASEAN sân bay Changi (Singapore) là sân bay có lượt hành khách cao nhất đạt 58,69 triệu lượt người năm 2016. Trong khi đó, sân bay Tân Sơn Nhất của Việt Nam tiếp nhận 32,48 triệu lượt hành khách năm 2016.

Hình 1. Số lượt khách qua các sân bay ASEAN và Hong Kong từ 2010 đến 2016 (Nguồn Wikipedia “List of busiest airports by passenger traffic”)

Xét về tốc độ tăng trưởng, sân bay Tân Sơn Nhất (Việt Nam), sân bay Hong Kong và sân bay Ninoy Aquino (Philippines) có tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định (số liệu về tốc độ tăng trưởng lớn hơn 0% khá đều đặn). Trong khi đó, một số sân bay tốc độ tăng có những năm âm, tức là số lượt hành khách giảm so với năm trước đó như sân bay Suvarnabhumi (Thái Lan) và sân bay Soekarno (Indonesia). Điều này cho thấy sự phát triển của các sân bay có sự giảm sút chứ không chỉ tăng lên.

Để nhận diện được tác động qua lại giữa các sân bay trong khu vực ASEAN và có tính đến sân bay Hong Kong tác giả sử dụng phương pháp tính hệ số tương quan. Kết quả từ bảng 2 cho thấy nhìn chung, các sân bay trong khu vực ASEAN có những tác động mang tính tương hỗ, tức là có những ảnh hưởng tích cực lẫn nhau, cùng phát triển và không có cạnh tranh lẫn nhau. Điều này thể hiện qua hệ số tương quan giữa các sân bay trong khu vực là dương (>0). Duy chỉ có sân bay Kuala Lumpur (Malaysia) là có tương quan âm với sân bay Suvarnabhumi (Thái Lan) và sân bay Ninoy Aquino (Philippines), cho thấy giữa các sân bay này dường như có sự cạnh tranh tương đối với nhau với hệ số tương quan lần lượt là -0,416 và -0,418.

Trong khi đó, hệ số tương quan giữa sân bay Hong Kong với các sân bay trong khu vực ASEAN đều là âm (<0), tức là có sự tương tác cạnh tranh giữa sân bay Hong Kong với các sân bay trong khu vực ASEAN. Và sự cạnh tranh của sân bay Hong Kong thể hiện rõ nhất là cạnh tranh với sân bay Changi (Singapore) với hệ số tương quan là -0,735. Như vậy, có thể thấy là có sự cạnh tranh khá mạnh giữa hai sân bay lớn và hiện đại nhất trong số các sân bay đang xét. Riêng với sân bay Tân Sơn Nhất thì có mối quan hệ tương hỗ cùng phát triển với các sân bay khác trong khu vực ASEAN chứ không có sự cạnh tranh. Riêng về mối quan hệ với sân bay Kuala Lumpur (Malaysia) thì sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay này không có sự ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Trong khi đó, xét mối tương quan giữa sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Hong Kong thì có sự cạnh tranh ở mức vừa phải giữa hai sân bay với hệ số là -0,399.

Lượng hành khách qua các sân bay thông thường có thể phản ánh được tình trạng năng động và khả năng cạnh tranh của điểm đến đó. Số liệu cho thấy sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau ở tầm vĩ mô của các sân bay trong khu vực ASEAN và sân bay Hong Kong. Các sân bay trong khu vực ASEAN dường như vận hành đúng như mong muốn của Hiệp hội ASEAN là cùng nhau hỗ trợ phát triển vì một ASEAN thống nhất trong đa dạng. Tình trạng này sẽ rất có lợi cho các quốc gia ASEAN trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển ngành hàng không nói riêng. Các sân bay ASEAN không bị mất chi phí và tiêu hao lợi ích trong quá trình phát triển và rất được lợi. Mặc dù vậy, trong kinh tế thì thường sẽ có sự cạnh tranh và sự cạnh tranh đối với các sân bay ASEAN là từ sân bay Hong Kong. Điều này cũng là bình thường vì sân bay Hong Kong ở một vị trí như một điểm đến khác, mang tính cạnh tranh với các điểm đến trong khu vực ASEAN. Các điểm đến ASEAN thì thường sẽ có những lực hút mang tính tổng hợp của cộng đồng ASEAN và do đó có sự nối kết mang tính cộng hưởng giữa các điểm đến.

Đối với sân bay Tân Sơn Nhất, trong những năm qua có sự tăng trưởng về lượng hành khách khá ấn tượng và xét trong mối tương quan với các sân bay trong khu vực thì cũng có những ảnh hưởng qua lại mang tính tích cực. Đây là điều rất thuận lợi trong quá trình phát triển của sân bay trong khu vực ASEAN. Tuy chỉ xếp sau cùng trong các sân bay được xét đến, nhưng sân bay Tân Sơn Nhất có mối quan hệ khá ổn định với sự vận hành của các sân bay khác và phát triển với tốc độ tương đối cao. Điều này là rất thuận lợi cho sân bay Tân Sơn Nhất trong quá trình phát triển và để phát triển hơn nữa, sân bay Tân Sơn Nhất cần có chính sách hợp tác tốt và chặt chẽ hơn với các sân bay trong khu vực ASEAN (ví dụ chính sách visa, thủ tục nhập cảnh liên thông hay mức phí sân bay ưu đãi…) để hình thành một chiến lược phát triển điểm đến Việt Nam, một thành phần trong một tổng thể khu vực ASEAN, phù hợp với những mối quan hệ và các tương tác tích cực được hình thành trong quá trình phát triển của các sân bay trong khu vực ASEAN.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

EVFTA tạo sức ép lớn cho các nhà bán lẻ Việt Nam

2 Giờ trước

Hiệp định EVFTA được thực thi, tốc độ thâm nhập ngày một nhiều của doanh nghiệp nước ngoài đã và đang gây sức ép rất lớn với các nhà bán lẻ trong nước.

Thaco cung ứng linh kiện theo hình thức OEM

2 Giờ trước

Là doanh nghiệp tiên phong phát triển công nghiệp hỗ trợ quy mô lớn, THACO đã và đang đẩy mạnh sản xuất và cung ứng linh kiện theo hình thức OEM (Original Equipment Manufacturer) cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hàn Quốc triển khai mạng 6G vào năm 2026

20 Giờ trước

Chính phủ Hàn Quốc dự kiến đầu tư tổng cộng 200 tỷ won (169 triệu USD) trong giai đoạn 2021 - 2026 để phát triển công nghệ 6G cơ bản. Mục tiêu là đạt được tốc độ truyền dữ liệu 1 terabyte/giây trong mạng 6G, tức là nhanh hơn 5 lần so với các dịch vụ di động 5G và sẽ giảm thời gian trễ xuống 1/10 so với các dịch vụ 5G.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

31°

Mây rải rác

15/08

25° - 32°

Mây rải rác

16/08

25° - 32°

Mây rải rác

17/08

25° - 31°

Mưa giông vào buổi chiều

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 14/08/2020 11:56
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
USD23,060.0023,090.0023,270.00
AUD16,136.7916,299.7916,810.73
EUR26,688.3026,957.8828,049.44
GBP29,514.8429,812.9730,747.49
JPY209.43211.55219.44
SGD16,459.8016,626.0617,147.23
THB659.72733.02760.55
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 14/08/2020 11:56
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏa 2-KVND/L1020010400
DO 0,001S-VVND/L1245012690
DO 0,05S-IIVND/L1220012440
E5 RON 92-IIVND/L1440014680
Xăng RON 95-IIIVND/L1492015210
Xăng RON 95-IVVND/L1502015320
Nguồn: Petrolimex
A mini Da lat in Hanoi

A mini Da lat in Hanoi

Ngày 13/08/2020 lúc 10:26

Sometimes, life is so busy, crowded and full of noise, then many girls and boys want to escape...