Thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm từ Hàn Quốc (Phần 2)

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Bên cạnh hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô và sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân, chất lượng nguồn nhân lực và khoa học công nghệ cũng là những yếu tố cần thiết giúp Hàn Quốc trở thành nước phát triển. Đây là những kinh nghiệm thực tiễn cần thiết để Việt Nam học hỏi.

(Phần 1: http://www.vlr.vn/vn/news/tin-tuc/toan-canh-kinh-te/3380/thoat-khoi-bay-thu-nhap-trung-binh-kinh-nghiem-tu-han-quoc-phan-1-.vlr)

(Vietnam Logistics Review) Bên cạnh hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô và sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân, chất lượng nguồn nhân lực và khoa học công nghệ cũng là những yếu tố cần thiết giúp Hàn Quốc trở thành nước phát triển. Đây là những kinh nghiệm thực tiễn cần thiết để Việt Nam học hỏi.

Chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực của Hàn Quốc trong giai đoạn 1980 - 1995 đã không ngừng được nâng cao. Ở nước này, tỷ lệ nhập học giáo dục bậc cao sau trung học phổ thông tăng gấp đôi trong vòng 5 năm từ 14,7% năm 1980 lên đến 34,1% năm 1985, vượt xa tỷ lệ này ở các nước đang phát triển có thu nhập trung bình khác. Giai đoạn 1986 - 1990, số lượng sinh viên đại học tăng gấp đôi. Sự gia tăng trình độ học vấn của lao động Hàn Quốc được thể hiện trong sơ đồ 1.

Sơ đồ 1: Tỷ lệ lao động phân theo trình độ học vấn của Hàn Quốc giai đoạn 1980 - 1995

(Nguồn: McKinsey Seoul Office, 1998, Productivity-led Growth for Korea)

Trình độ lao động công nghiệp của Hàn Quốc cũng thể hiện ở tỷ lệ các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành kỹ thuật cao hơn so với tỷ lệ sinh viên ngành khoa học xã hội. Trong khi ở các nước có thu nhập trung bình khác, tỷ lệ sinh viên kỹ thuật thấp hơn. Theo số liệu của UNESCO (2011), năm 1999, Hàn Quốc có 35% sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật và 21% tốt nghiệp ngành khoa học xã hội. Trong khi năm 2008, tỷ lệ đó ở Malaysia lần lượt là 25% và 33%, Thái Lan là 9% và 42%, Indonesia là 16% và 38%.

Giáo dục bậc cao có tầm quan trọng to lớn với sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của Hàn Quốc. Dù là một đất nước xem trọng bằng cấp và dành nhiều ưu tiên cho các ứng viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, nhưng bên cạnh đó giáo dục nghề cũng rất được quan tâm và người lao động được đào tạo qua các trường dạy nghề luôn chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động, khoảng 38% - 41%. Đây là bộ phận đóng vai trò quyết định trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế công nghiệp hóa những năm 1970 - 1980, trong việc phát triển các ngành công nghiệp nặng thâm dụng vốn và đòi hỏi nguồn lao động công nghiệp có trình độ kỹ thuật. Giai đoạn 1980 - 1995, bộ phận đóng góp nhiều nhất vào sự tăng trưởng của nền kinh tế chuyển sang các lao động có trình độ cao hơn, được đào tạo chuyên sâu hơn để thúc đẩy các ngành điện tử, công nghệ cao phát triển.

Đặc biệt, trong giai đoạn thu nhập trung bình, Hàn Quốc đã xây dựng thành công hệ thống các chương trình đào tạo nghề và kỹ thuật (Technical and vocational education and training - TVET). Ngoài số lượng lớn các trường dạy nghề, trung cấp kỹ thuật, đại học, nước này còn có những trung tâm đào tạo việc làm do Bộ Lao động thành lập. Ngành huấn luyện và phát triển kỹ năng của các DNTN cũng rất phát triển.

Trình độ khoa học công nghệ

Hàn Quốc có nền KHCN hiện đại và phát triển, với số lượng các bằng sáng chế rất cao so với khu vực và trên thế giới. Bảng số liệu sau đưa ra số lượng các bằng phát minh sáng chế của Hàn Quốc được cấp bởi Hoa Kỳ từ năm 1980 - 1995.

Theo số liệu của WIPO (2000), đến trước năm 2000, Hàn Quốc đứng thứ năm trên thế giới về tổng số lượng bằng phát minh sáng chế, chỉ sau Mỹ, Nhật Bản, Đức và Đài Loan.

Các phát minh sáng chế chủ yếu thuộc lĩnh vực điện tử, ICT, phần mềm, chip bán dẫn...

Nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng mạnh mẽ từ những năm 1980 là nhờ sự chuyển dịch sang các mặt hàng có hàm lượng kỹ thuật cao được hỗ trợ bởi hoạt động nghiên cứu khoa học trong nước. KHCN tạo điều kiện đổi mới trang thiết bị, tự động hóa quy trình sản xuất, và phát triển các sản phẩm công nghệ cao. KHCN đưa nền công nghiệp trong nước chuyển dịch từ những ngành thâm dụng sức lao động những năm 1960 - 1970 sang những ngành thâm dụng vốn và công nghiệp nặng giai đoạn 1980 - 1990, và tiếp đó là các ngành công nghệ cao ICT. KHCN gia tăng nội lực sản xuất và lợi thế tương đối của quốc gia, đưa nền kinh tế lên vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Từ một nước nhập khẩu công nghệ và sản xuất hàng loạt, Hàn Quốc đã trở thành nước chuyển giao công nghệ cho các nước đi sau, mở rộng quy mô nhà máy ở các nước này và xuất khẩu những sản phẩm hoàn chỉnh có hàm lượng kỹ thuật và giá trị gia tăng cao đi khắp nơi trên thế giới.

Các DNTN và chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để thúc đẩy nền KHCN trong nước phát triển. Các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hợp tác với nước ngoài chuyển giao công nghệ, thành lập và đầu tư cho các viện nghiên cứu (Research Institution - RI) tư nhân. Trong số các bằng sáng chế được cấp, tỷ lệ bằng sáng chế do bộ phận R&D của các DNTN đăng ký tăng cao và đạt 75% vào năm 1986. Chính phủ đã thành lập những RI quốc gia như Viện khoa học và công nghệ Hàn Quốc (Korea Institute of Science and Technology - KIST) năm 1969, các trung tâm hỗ trợ hợp tác phát triển cụm KHCN như “thung lũng Tehran” năm 1997. Chính phủ đã gia tăng đáng kể mức độ và phạm vi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại nước này. Năm 1986, Đạo luật bản quyền (Copyright Act) được sửa đổi bổ sung để đáp ứng những mối quan tâm về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Khoa học công nghệ giúp Hàn Quốc từ một nước nhập khẩu công nghệ và sản xuất hàng loạt, trở thành nước chuyển giao công nghệ cho các nước đi sau, mở rộng quy mô nhà máy ở các nước này và xuất khẩu những sản phẩm hoàn chỉnh có hàm lượng kỹ thuật và giá trị gia tăng cao đi khắp nơi trên thế giới.

Cả nước đầu tư mạnh mẽ cho R&D. Từ giữa những năm 1990, tỷ lệ GDP đầu tư cho R&D của Hàn Quốc đã đạt trên 2%, trong đó hoạt động R&D của các DNTN đạt 80% tổng vốn đầu tư. Trong khi đó tại các nước khác có thu nhập tương đương với Hàn Quốc tại thời điểm này, tỷ lệ R&D/GDP chỉ đạt dưới 0,7%. Hai bộ phận quan trọng nhất tạo nên những thành tựu KHCN của Hàn Quốc là các RI và các trường đại học, hoạt động với nhiệm vụ khác nhau. Trong khi RI thực hiện các đề tài nghiên cứu theo yêu cầu của chính phủ và các doanh nghiệp, thì các trường đại học là nơi đào tào các nhà khoa học làm việc tại RI trong tương lai.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Kiến nghị các giải pháp ngăn gian lận từ hàng quá cảnh

Ngày 23/05/2019 lúc 14:57

Xác định hàng quá cảnh, kho ngoại quan trên địa bàn TPHCM còn tiềm ẩn nguy cơ cao hàng lậu, Cục Hải quan TPHCM kiến nghị nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn.

Nhiều hoạt động tại Phiên chợ sách Đà Nẵng 2019

Ngày 23/05/2019 lúc 09:42

Tối 22/5/2019, Thư viện Khoa học tổng hợp Đà Nẵng phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ TP. Đà Nẵng đã tổ chức Phiên chợ sách 2019 lần I với chủ đề “Sách là bạn”. Đây là hoạt động văn hóa, xã hội có ý nghĩa được tổ chức thường niên nhằm tôn vinh, khẳng định vai trò và tầm quan trọng của sách trong thời buổi công nghệ hiện nay.

Ô tô nhập vào Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu tháng 5

Ngày 23/05/2019 lúc 08:50

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 5 vừa qua, đã có 7.611 xe nhập khẩu vào Việt Nam, trị giá 163,4 triệu USD. Như vậy, kể từ đầu năm 2019 đến nay đã có 58.295 ôtô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam, đạt kim ngạch hơn 1,289 tỷ USD.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

33°

Nhiều mây

25/05

26° - 33°

Mưa giông

26/05

26° - 33°

Mưa giông

27/05

26° - 34°

Mưa giông

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 24/05/2019 20:51
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD15,890.9915,986.9116,258.66
EUR25,984.0426,062.2326,791.63
GBP29,318.2629,524.9329,787.54
JPY206.39208.47214.52
SGD16,776.2116,894.4717,078.86
THB719.45719.45749.45
USD23,335.0023,335.0023,455.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 24/05/2019 11:55
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1642016740
DO 0,001S-VVND/L1791018260
DO 0,05S-IIVND/L1761017960
E5 RON 92-IIVND/L2048020880
Xăng RON 95-IIIVND/L2159022020
Xăng RON 95-IVVND/L2174022170
Nguồn: Petrolimex