Phân tích SWOT ngành logistics Việt Nam

(VLR) (Vietnam Logistics Review) SWOT là phương pháp phân tích khá phổ biến, được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch cho một tổ chức, một ngành hay lĩnh vực kinh tế. Chúng tôi sử dụng phương pháp này như một cách đánh giá tổng quan những mặt được và chưa được của ngành logistics Việt Nam vào dịp cuối năm.

(Vietnam Logistics Review) SWOT là phương pháp phân tích khá phổ biến, được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch cho một tổ chức, một ngành hay lĩnh vực kinh tế. Chúng tôi sử dụng phương pháp này như một cách đánh giá tổng quan những mặt được và chưa được của ngành logistics Việt Nam vào dịp cuối năm.

SWOT là từ viết tắt của bốn từ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (thách thức). Các điểm mạnh và điểm yếu là những đặc điểm tự thân, nội bộ của ngành, liên quan đến nguồn nhân lực, công nghệ, tài chính... Còn cơ hội và thách thức là những yếu tố từ bên ngoài ngành đem lại, tạo ra những thuận lợi hay trở ngại cho sự phát triển của ngành. Chúng có thể mang tính chất vĩ mô như toàn bộ nền kinh tế, chính sách của nhà nước, tự do hóa thương mại quốc tế... hay vi mô như khách hàng, cơ chế tín dụng, cạnh tranh...

Điểm mạnh

- Quy mô thị trường dịch vụ logistics Việt Nam tuy nhỏ (khoảng 2% - 4% GDP), nhưng tốc độ tăng trưởng cao (20% - 25%/năm). Với khoảng cách địa lý kéo dài hàng ngàn cây số trên trục Bắc - Nam, nhu cầu vận chuyển hàng hóa đường dài ngày càng tăng. Khối lượng hàng hóa qua cảng biển năm 2020 dự kiến tăng lên mức 900 - 1.100 triệu tấn, năm 2030 dự kiến đạt 1.600 - 2.100 triệu tấn. Nhìn chung, ngành logistics Việt Nam rất có triển vọng phát triển.

- Số doanh nghiệp thành lập và hoạt động trong ngành logistics tại Việt Nam khá lớn và gồm nhiều thành phần. Cả nước có khoảng 1.200 doanh nghiệp (vượt cả Thái Lan, Singapore), trong đó các công ty logistics đa quốc gia hàng đầu trên thế giới (Top 25 hoặc 30) đã có mặt tại Việt Nam. Các công ty nước ngoài hoạt động đa dạng, đặc biệt trong việc cung ứng dịch vụ 3PL (Third Party Logistics) với trình độ công nghệ hiện đại, chuyên nghiệp như tại các nước phát triển.

Điểm yếu

- Các doanh nghiệp logistics Việt Nam hoạt động còn manh mún, thiếu kinh nghiệm và chuyên nghiệp, phần lớn chỉ cung cấp dịch vụ cơ bản, dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ, ít giá trị gia tăng hay gia công cho các công ty nước ngoài. Tiềm lực về tài chính của các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn yếu (80% doanh nghiệp thành lập có vốn điều lệ vài tỷ đồng), tổ chức mạng lưới toàn cầu, hệ thống thông tin còn rất hạn chế. Nguồn nhân lực làm dịch vụ logistics chưa qua đào tạo bài bản và còn thiếu, yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt thiếu các chuyên gia logistics giỏi, có năng lực ứng dụng và triển khai tại các doanh nghiệp.

- Mặt khác, sự liên kết giữa các doanh nghiệp dịch vụ logistics với nhau và với doanh nghiệp xuất nhập khẩu còn nhiều hạn chế, chưa chặt chẽ và tin tưởng. Đây là một trong những lý do làm dịch vụ logistics của chúng ta kém phát triển so với yêu cầu. Tỷ lệ thuê ngoài logistics còn rất thấp, khoảng 25% - 30%, trong khi của Trung Quốc là 63,3% (2010), Nhật Bản, Mỹ và các nước châu Âu trên 40%.

- Chi phí logistics tại Việt Nam khá cao, chiếm 20,8% GDP (năm 2016), trong đó chi phí vận tải chiếm 40% - 50% giá thành sản phẩm (tỷ lệ này là 15% ở các quốc gia khác). Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam. Nguyên nhân dẫn đến chi phí cao là do hạ tầng giao thông vận tải yếu kém, công nghệ thông tin chưa hỗ trợ hiệu quả nên dẫn đến ùn tắc giao thông và năng suất thấp, kết nối hạ tầng, khả năng xếp dỡ và trung chuyển container còn hạn chế, thời gian thông quan tại cảng kéo dài.

Cơ hội

- Nền kinh tế Việt Nam dự kiến sẽ vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm tới. Các hoạt động thương mại phát triển mạnh ở Việt Nam với tổng giá trị thương mại trong năm 2016 lên đến 350 tỷ USD. Yếu tố đó, cùng với triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung, với mức giải ngân đã tăng 9% trong năm qua, cũng như các khoản đầu tư lớn của các công ty đa quốc gia như Samsung, Intel…, sẽ tạo động lực cho ngành logistics phát triển mạnh hơn nữa.

- Định hướng của Chính phủ về cải tiến các lĩnh vực bao gồm phát triển cơ sở hạ tầng, cơ cấu lại thị trường vận tải hàng không vào năm 2020 sẽ góp phần phát triển thị trường vận tải hàng hóa và tăng vai trò vận tải hàng không, đặc biệt là các khu kinh tế trọng điểm và vùng sâu vùng xa. Nhà nước đã có quy hoạch và trên thực tế đang và sẽ đầu tư phát triển bằng nhiều nguồn vốn các công trình kết cấu hạ tầng như khu cảng nước sâu Cái Mép, cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, Sân bay quốc tế Long Thành, hành lang đường bộ Đông Tây (EWEC), hành lang Hà Nội - Hải Phòng - Hà Khẩu - Côn Minh, hệ thống đường bộ cao tốc, đường sắt xuyên Á… Mặt khác, các thể chế như thủ tục hải quan, cải cách hành chính, đẩy nhanh tiến trình hội nhập sâu... tiếp tục được củng cố, cải thiện.

Thách thức

- Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải yếu kém, không đồng bộ, đặc biệt chưa tạo ra hành lang vận tải đa phương thức, trong khi nhu cầu trung chuyển chất lượng cao cho hàng hóa giữa các phương thức đang ngày càng lớn. Vận tải đường bộ đóng góp tỷ trọng doanh thu lớn nhất toàn ngành, là loại hình vận tải có mạng lưới giao thông phát triển và được đầu tư nhiều nhất, sản lượng hàng hóa vận tải đường bộ đạt mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2006 – 2017. Tuy nhiên, hệ thống đường bộ Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế như tỷ lệ quốc lộ thấp và khả năng chịu tải kém, gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi phải tăng chi phí, thời gian, tăng rủi ro cho hàng hóa. Vận tải đường sắt có sản lượng hàng hóa thông qua liên tục giảm trong các năm qua do cơ sở hạ tầng, công nghệ lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu vận chuyển. Vận tải đường biển trong năm qua cũng gặp nhiều khó khăn do sự mất cân đối, dư thừa tàu dẫn đến cạnh tranh gay gắt, giá cước sụt giảm liên tục. Cơ cấu đội tàu biển còn nhiều bất cập, tỷ trọng tàu container rất thấp, chỉ chiếm 3.5%, đầu tư manh mún, không bền vững, chất lượng đội tàu còn thấp, số chủ tàu thì nhiều nhưng năng lực tài chính và trình độ quản lý còn hạn chế.

Thách thức đặt ra là khoảng cách rất lớn giữa nhu cầu và nguồn vốn đầu tư cho giao thông hiện nay. Làm thế nào để huy động sự tham gia của tư nhân trong phát triển hạ tầng và cung cấp dịch vụ để đảm bảo giao thông, trong bối cảnh ngân sách và nguốn vốn ODA chỉ có thể chiếm phần nhỏ. Việt Nam cần phải cân nhắc huy động vốn tư nhân, vay thương mại, vay dự án, kể cả đầu tư theo hình thức công tư PPP. Đặc biệt, phải đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả hệ thống sân bay và cảng biển, giải quyết tình trạng mà bà Jung Euth Oh, chuyên gia giao thông cao cấp của Ngân hàng Thế giới (WB), đã chỉ ra là 80% các sân bay Việt Nam hoạt động với công suất thấp hơn 5%, trong đó có 8% các sân bay thua lỗ, cũng như nhiều cụm cảng biển đầu tư lớn nhưng công suất sử dụng dưới 2%.

- Thể chế, chính sách với ngành logistics chưa rõ ràng, không đồng bộ, bất cập, chưa tạo điều kiện hỗ trợ ngành logistics còn non trẻ phát triển. Nhiều nơi, chi phí kinh doanh không chính thức còn cao Hệ thống thông tin thiết yếu chưa hiệu quả. Trong khi đó, sự cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài ngày càng gay gắt. Về nguồn cung cấp nhân lực logistics từ xã hội, cho đến thời điểm này, chỉ có vài trường đại học trên cả nước có chuyên khoa đào tạo logistics kết hợp với vận tải.

Trong khuôn khổ một bài báo, chúng tôi chỉ tập hợp thông tin để đưa ra bốn nội dung trên, không có điều kiện đề xuất các nhóm giải pháp SO, ST, WO, WT mà một phân tích SWOT hoàn chỉnh thường làm.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Giải pháp trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container đường biển

Ngày 18/04/2019 lúc 09:04

Ngày 15/4, Tập đoàn Kuehne + Nagel cho ra mắt sản phẩm KN Pledge – giải pháp vận tải đường biển trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container.

Hàng về Cái Mép cao hơn về Cát Lái 100 USD mỗi container?

Ngày 18/04/2019 lúc 08:20

Ngày 17/4, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các ngành liên quan đã cùng nhau bàn các giải pháp để nâng cao năng suất, tăng lượng hàng qua hệ thống cảng container nước sâu tại tỉnh này.

Hạn mức giao dịch ví điện tử cá nhân không quá 20 triệu đồng/ ngày

1 Giờ trước

Đó là một trong những điểm nổi bật được nêu trong dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39 hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán đang được Ngân hàng Nhà nước đưa ra lấy ý kiến.

2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh

1 Giờ trước

Năm 2018, tỉnh Quảng Di sản thế giới mới chỉ hút 12 triệu khách tham quanQuảng Ninh với vị trí địa lý sơn thuỷ hữu tình đã tạo nên một "kỳ quan đá dựng giữa trời cao" - Vịnh Hạ Long (trích Nguyễn Trãi). Tuy nhiên, di sản thiên nhiên thế giới này hiện mới chỉ hấp dẫn trên 12,2 triệu lượt khách đến tham quan năm 2018.Tại hội thảo “ Du lịch Quảng Ninh – Vươn tầm di sản” tổ chức tại Trung tâm hội nghị quốc tế - Quần thể nghỉ dưỡng FLC Hạ Long, ngày 19/4, ông Nguyễn Đức Long, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết Quảng Ninh được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh với các địa điểm du lịch, di tích quốc gia, biển đảo, bãi tắm du lịch nổi tiếng. Tỉnh đã có hệ thống hạ tầng hiện đại, các đường cao tốc từ Hải Phòng - Hạ Long kết nối đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, có đường cao tốc đi sân bay quốc tế Vân Đồn và đang khởi công xây dựng đường cao tốc từ Vân Đồn đến Móng Cái.Ngành Du lịch Quảng Ninh trong năm 2018 đã đón 12,2 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 5,2 triệu lượt. Tổng thu đạt trên 24.000 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ, thu ngân sách tăng 31% so với cùng kỳ. Các khách sạn, dịch vụ, sản phẩm mới được ra đời. Nhận thức về du lịch của cộng đồng người dân cao hơn.2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh - Ảnh 1.Nguồn: Tổng cục Du lịch, UBND tỉnh Quảng Ninh.So với lượng khách du lịch trên cả nước trong năm 2018 là 95,5 triệu lượt, tỷ trọng khách duc lịch đến Quảng Ninh mới chỉ chiếm 12,77%, tương ứng 12,2 triệu lượt. Trong đó, khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh đạt 5,5 triệu lượt, chiếm tỷ trọng 35,48% trong tổng lượng khách quốc tế cả nước. Khách trong nước đến Quảng Ninh cũng chỉ chiếm 8,38%.Tuy nhiên, tỷ trọng khách quốc tế đạt 5,5 triệu lượt (46%) đang áp đảo so với khách nội địa 6,7 triệu lượt (54%) trong tổng lượng khách đến Quảng Ninh.Theo ông Nguyễn Đức Long, tỉnh Quảng Ninh đã đặt ra mục tiêu đưa du lịch thành ngành mũi nhọn với hệ thống hạ tầng hiện đại, trở thành một trong những đầu tàu để phát triển kinh tế. Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 15 -16 triệu lượt khách trong đó có 7 triệu lượt khách quốc tế. Đến năm 2030, đặt mục tiêu đạt 30 triệu lượt trong đó khách quốc tế đạt 15 triệu lượt.Năm 2018, du lịch đóng góp 9% GDP. Tỉnh phấn đấu đến năm 2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP, tạo 100.000 việc làm trực tiếp và gián tiếp. Việc nâng cao nhận thức về phát triển du lịch để du lịch không chỉ là của cộng đồng doanh nghiệp mà cả của người dân địa phương trên toàn địa bàn tỉnh.Di sản quốc tế - Chất lượng nhân sự phải quốc tếTheo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, Quảng Ninh như một Việt Nam thu nhỏ, là vùng đất có sự đa dạng văn hóa gắn với đặc sắc 22 thành phần dân tộc chiếm gần một nửa trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, có di sản văn hóa tâm linh Yên Tử và kì quan thế giới Vịnh Hạ Long. Philip Kotler, cha đẻ marketing thế giới đã từng đặt câu hỏi tại sao Việt Nam không trở thành “bếp ăn của thế giới”, ý là tại sao không trở thành điểm đến hàng đầu của thế giới. Vậy chúng ta lại đặt câu hỏi, tại sao Quảng Ninh không trở thành điểm đến hàng đầu của Việt Nam và tiến tới của cả thế giới? Để làm được điều này, mỗi người dân có thể trở thành một đại sứ du lịch.Quảng Ninh đặt mục tiêu vươn ra thế giới nhưng vẫn phải giữ gìn vè đẹp hoang sơ của thiên nhiên. Yếu tố đảm bảo thành công là xây dựng được mối liên kết phát triển giữa các tỉnh. Các tỉnh cần ngồi lại với nhau để xây dựng chiến lược tổng thể trong cả khu vực.“Ở đây tôi cũng muốn nói đến sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Tập đoàn FLC, Vin, Sungroup, những đóng góp của họ góp phần tạo nên câu chuyện cổ tích của Quảng Ninh”, ông Lộc nhấn mạnh.Còn theo ông Phạm Ngọc Thủy, Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, trong thời gian gần đây, khách du lịch đến với Quảng Ninh mới biết đến một số địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Yên Tử... Tuy nhiên, thực tế Quảng Ninh còn có 600 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 5 di tích quốc gia đặc biệt, 3 di tích cấp quốc gia, 8 di tích cấp tỉnh. Có thể thấy, Quảng Ninh được thiên nhiên ưu ái ban cho điều kiện tự nhiên, văn hóa làm tiền đề phát triển du lịch.Từ 30/12/2018, tỉnh Quảng Ninh đã đưa vào khai thác cảng tàu du lịch, cảng đã đón gần 50 chuyến tàu, Vân Đồn cũng đón gần 50.000 người. Kết nối phát triển du lịch phải nằm trong kết nối với các địa phương cả nước và nước ngoài. Các tour lữ hành sẽ có điều kiện phát triển hơn, mở ra hội nhập quốc tế.Các tập đoàn kinh tế đã tạo ra bộ mặt du lịch khang trang hơn, hạ tầng du lịch đều đạt đẳng cấp quốc tế đóng góp mạnh vào phát triển tỉnh. Tuy nhiên, Quảng Ninh chưa có đường hàng không nên kết nối khó khăn. Đã có rất nhiều hãng hàng không đã đặt vấn đề với tỉnh để kết nối các địa bàn trong nước và nước ngoài tạo thành vòng cung khép kín, tiết kiệm thời gian đi lại cho khách du lịch.Muốn khách du lịch đến và ở lại dài ngày chúng ta phải mở rộng không gian du lịch. Cũng đã có các tập đoàn kinh tế lớn đặt hạ tầng tại các địa điểm như Quan Lạn, Cô Tô, Vân Đồn… Nhưng nếu không gian du lịch không được mở rộng sẽ không kéo được khách du lịch mà còn dẫn đến sự quá tải cục bộ.“Để phát triển du lịch đẳng cấp quốc tế, ngoài hạ tầng tốt cần có nguồn nhân lực cao và đẳng cấp quốc tế. Không chỉ là việc đào tạo nhân lực cấp cao mà cả nhân lực cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân, vì du lịch liên quan đến văn hóa, ông Thuỷ nói.Đồng tình quan điểm này, ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hiệp hội các tổ chức dịch vụ và phát triển kinh doanh Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn FLC, cho rằng nhân lực du lịch của Quảng Ninh còn thiếu và yếu, trong một năm chúng tôi có thể xây khách sạn 1-2 nghìn phòng, cần 3 nghìn lao động, thế nhưng lao động lấy ở đâu? Hay như ở Thanh Hóa, chúng tôi được cấp phép 5 sao cho hạ tầng nhưng nhân lực nói thực mới chỉ 3 sao đổ lại.Quảng Ninh cần mở các khóa đào tạo, cần mời chuyên gia về đào tạo của Việt Nam để đào tạo nhân lực 5 sao để thu tiền được 5 sao, chứ không chỉ thu tiền được 3 sao. đón 12,2 triệu lượt khách đến tham quan, chiếm tỷ lệ gần 13% tổng lượng khách du lịch cả nước.

Đăng ký bán hàng trên Amazon: Cơ hội “lên sàn” cho những doanh nghiệp uy tín

1 Giờ trước

Bộ Công Thương Việt Nam và Amazon mới đây đã thống nhất Chương trình hợp tác trong 3 năm (2019 - 2021) với việc hỗ trợ DN Việt xuất khẩu toàn cầu.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

29°

Mây rải rác

23/04

28° - 36°

Nắng ấm

24/04

28° - 37°

Nhiều mây

25/04

28° - 38°

Nhiều mây

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 22/04/2019 09:55
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,386.4416,485.3516,665.39
EUR25,891.3025,969.2126,617.90
GBP29,802.0130,012.0930,279.24
JPY202.11204.15210.55
SGD16,907.4417,026.6317,212.58
THB714.43714.43744.23
USD23,155.0023,155.0023,255.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 21/04/2019 23:55
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1626016580
DO 0,001S-VVND/L1768018030
DO 0,05S-IIVND/L1738017720
E5 RON 92-IIVND/L1970020090
Xăng RON 95-IIIVND/L2123021650
Xăng RON 95-IVVND/L2138021800
Nguồn: Petrolimex