Gắn kết doanh nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo

(VLR) (Vietnam Logistics Review) Để giải quyết được bài toán nguồn nhân lực cho ngành logistics trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, đẩy mạnh liên kết đào tạo giữa nhà trường - doanh nghiệp - Nhà nước và hiệp hội là một trong những giải pháp quan trọng cần được triển khai.

(Vietnam Logistics Review) Để giải quyết được bài toán nguồn nhân lực cho ngành logistics trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, đẩy mạnh liên kết đào tạo giữa nhà trường - doanh nghiệp - Nhà nước và hiệp hội là một trong những giải pháp quan trọng cần được triển khai.

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), hiện cả nước có khoảng hơn 3.000 DN tham gia cung cấp dịch vụ logistics (70% có trụ sở tại TP. HCM), trong đó 1.300 DN đang hoạt động tích cực bao gồm 89% DN 100% vốn trong nước, còn lại là DN có vốn đầu tư nước ngoài. Giai đoạn 2017 - 2020, ngành logistics cần thêm khoảng 20.000 lao động chất lượng cao, có trình độ chuyên môn và đến năm 2030, số lượng người lao động mới cần thêm lên tới 200.000 lao động trình độ cao, đáp ứng đủ các yêu cầu về kỹ năng, kiến thức chuyên môn và trình độ tiếng Anh. Nhưng thực tế lại cho thấy đội ngũ quản lý trong lĩnh vực logistics chủ yếu tích tụ kiến thức từ thực tiễn kinh nghiệm kinh doanh. Phong cách lãnh đạo và quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu. Đội ngũ nhân viên nghiệp vụ phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng chủ yếu từ những chuyên ngành ngoài logistics. Lực lượng lao động trực tiếp như bốc vác, xếp dỡ, lái xe, kiểm đếm hàng, kho bãi, đa số có trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo tác phong làm việc chuyên nghiệp.

Theo báo cáo của Bộ GTVT về thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực logistics tháng 12.2014, có đến 80,26% số người hoạt động trong lĩnh vực này học tập thông qua các công việc hàng ngày; 23,6% lực lượng lao động tham gia các khóa học về logistics ở trong nước và 3,9% tham gia các khóa đào tạo quốc tế về logistics. Mặc dù nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn còn hạn chế nhưng chỉ có 6,9% các DN logistics thuê các chuyên gia nước ngoài để phục vụ cho hoạt động của mình. Bên cạnh đó, công tác đào tạo như hiện nay đang khiến ngành logistics rơi vào tình trạng thiếu nhân lực cả về lượng và chất. Để giải quyết được bài toán nguồn nhân lực trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng liên kết đào tạo nhân lực giữa nhà trường - Doanh nghiệp - Nhà nước và Hiệp hội cần đi vào thực chất.

Thực trạng đào tạo ngành logistics tại Việt Nam

Nguồn nhân lực logistics tại Việt Nam được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó ở bậc đại học, các trường đào tạo chuyên ngành logistics hoặc sát với chuyên ngành logistics phải kể đến là: trường Đại học GTVT TP. HCM, trường Đại học Hàng hải Việt Nam, trường Đại học Ngoại thương, trường Đại học GTVT Hà Nội, trường Đại học RMIT... Ngoài ra, còn một số nhân lực tốt nghiệp từ các ngành đào tạo khác của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trường Đại học Hà Nội, Đại học Kinh tế TP. HCM, trường Cao đẳng Tài chính Hải quan (nay là trường Đại học Tài chính Marketing)... Tuy nhiên, các trường này chủ yếu tập trung vào giao nhận và vận tải biển. Ngoài ra, một số hiệp hội và các nhóm DN tổ chức đào tạo ngắn hạn theo phương thức hợp tác với đối tác nước ngoài hay các giảng viên tự do.

Các DN và Hiệp hội phải cùng nhau xây dựng chuẩn nghề nghiệp để các trường căn cứ vào đó xây dựng chuẩn đầu ra.

Thời gian qua, Viện Nghiên cứu và phát triển logistics Việt Nam (VLI) trực thuộc VLA đã hợp tác với Hội đồng Cố vấn Giáo dục của Liên đoàn các Hiệp hội Giao nhận Quốc tế (FIATA) để đào tạo chương trình FIATA Diploma về “Quản lý giao nhận vận tải quốc tế” với bằng Diploma được công nhận trên toàn thế giới. Viện cũng tham gia trực tiếp trong Tiểu ban Giáo dục và Đào tạo của Hiệp hội Giao nhận các nước ASEAN (AFTA) để xây dựng chương trình đào tạo logistics chung cho các thành viên ASEAN. Viện còn kết hợp với các đối tác mở các khóa đào tạo nghiệp vụ giao nhận, gom hàng đường biển, về đại lý hải quan. Về giao nhận hàng không, IATA thông quan Việt Nam Airlines đã tổ chức được một số lớp học nghiệp vụ và tổ chức thi cấp bằng IATA có giá trị quốc tế.

Bên cạnh thực tế số lượng đơn vị đào tạo nhân lực ngành logistics còn khá ít thì chương trình đào tạo về logistics cũng còn yếu và nhỏ lẻ (khoảng 15 - 20 tiết học trong môn vận tải và bảo hiểm ngoại thương hoặc 30 - 45 tiết học cho môn học logistics), chủ yếu đào tạo nghiên về vận tải biển và giao nhận đường biển. Với thời lượng môn học như vậy, bài giảng chỉ tập trung giới thiệu những công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các công đoạn. Chương trình tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng, các khái niệm mới như “one stop shopping”, Just in time (JIT-Kanban)… Tính thực tiễn của chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai trò và sự đóng góp của logistics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế. Trong khi đó, logistics là một ngành rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực từ vận tải với tất cả các phương thức, tồn trữ và phân phối đến thương mại quốc tế, rủi ro và bảo hiểm, hải quan, dịch vụ gia tăng giá trị, thương mại điện tử… Vì vậy khi được tuyển dụng vào làm ở DN logistics, sinh viên tỏ ra lúng túng, không hiểu rõ công việc mình sẽ làm.

Về phía DN, do nguồn đào tạo chính quy thiếu hụt nên các công ty sau khi tuyển dụng nhân viên đều phải tự trang bị kiến thức nghề nghiệp bằng các khóa tự mở trong nội bộ công ty cho các nhân viên mới với lực lượng giảng dạy là những cán bộ đang tại chức. Lực lượng này là những người đang kinh doanh nên có nhiều kinh nghiệm thực tế, tuy nhiên khả năng sư phạm và phương pháp truyền đạt chưa đảm bảo. DN phải đào tạo từ vấn đề cơ bản nhất, ví dụ trong lĩnh vực làm chứng từ xuất hàng hóa, phải dạy làm thế nào để nhận đơn hàng, quy trình làm việc với khách hàng ra sao. DN phải tự soạn giáo trình đào tạo để các em nhanh chóng nắm bắt công việc. Tuy nhiên, các em cũng phải mất ít nhất hai tháng để học việc. Và rõ ràng việc đào tạo lại nhân viên khiến các DN tốn không ít thời gian và chi phí.

Sự thiếu hụt này cần được giải quyết nhanh chóng vì hội nhập phát triển thương mại quốc tế là xu hướng tất yếu của Việt Nam và hợp tác đào tạo giữa các trường đại học và DN là lời giải hay nhất cho bài toán khó trong cải thiện chất lượng nguồn nhân lực ngành logistics hiện nay.

Làm sao để liên kết đào tạo được hiệu qu

Điều cần thiết trước tiên là làm sao trong các chương trình dạy học có thể kết nối được với yêu cầu của DN để sinh viên ra trường không phải đào tạo lại. Nhận thức được điều này, nhiều DN phải chủ động liên kết với các trường trong đào tạo nhân lực. Ngược lại, các trường có đào tạo logistics phải liên kết với DN để chương trình học sát thực tế hơn.

Thực tế, trường nào cũng nghĩ đến phải gắn kết DN trong đào tạo nhưng hiệu quả và chất lượng liên kết của các trường lại rất khác nhau. Có trường mới làm ở bước đưa sinh viên đi tham quan, trường khác thì đưa sinh viên đến thực tập. Thực tập cũng chia ra nhiều loại, có khi thực tập đúng với ngành học và cũng có hình thức thực tập phải theo yêu cầu của DN mà nhiều khi không đúng với ngành học của sinh viên, bởi DN không có sẵn đội ngũ giảng viên để giảng dạy, hướng dẫn các em như ở trường. Và DN cũng cần phải vận hành công việc của họ nên khi có sinh viên đến thực tập, năng suất làm việc của DN sẽ bị ảnh hưởng. Một ví dụ khác, chẳng hạn, Tập đoàn Gemadept mỗi năm cấp học bổng cho Đại học Ngoại thương để họ giữ cho mình một số sinh viên. Còn kết nối giữa hai bên bằng chương trình đào tạo rất khó thực hiện bởi không phải DN đưa ra yêu cầu gì nhà trường cũng chấp nhận. Một trường có thể liên kết với nhiều DN logistics và DN nào cũng đưa ra các yêu cầu khác nhau thì nhà trường khó xây dựng được chương trình học.

Các trường không nên ngồi đợi các DN đến yêu cầu mà cần đi khảo sát, nghiên cứu thị trường gắn kết với DN để có kế hoạch đào tạo tốt hơn.

Để tháo gỡ những khó khăn cho ngành logistics, các trường đại học cao đẳng đào tạo ngành này nên bỏ quan niệm nhà trường xây dựng các chuẩn nghề nghiệp vì việc đó có thể dẫn đến việc sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu công việc. Các DN và các hiệp hội phải cùng nhau xây dựng chuẩn nghề nghiệp để các trường căn cứ vào đó xây dựng chuẩn đầu ra, hay chương trình đào tạo. Đó là việc hết sức quan trọng mà DN cần phải làm. Bên cạnh đó, DN cần có trách nhiệm tiếp nhận sinh viên vào thực tập, thông tin cho trường biết nhu cầu tuyển dụng của mình, trình độ thế nào, cơ cấu tuyển dụng ra sao, khi nào tuyển dụng… DN cần xác định nhu cầu, cơ cấu tuyển dụng trước khoảng 3 - 5 năm để tránh việc nhà trường tự tổ chức đào tạo theo dự báo nhu cầu nhân lực của nhà trường. Đặc biệt, các trường không nên ngồi đợi các DN đến yêu cầu mà cần đi khảo sát, nghiên cứu thị trường gắn kết với DN để có kế hoạch đào tạo tốt hơn.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Giải pháp trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container đường biển

Ngày 18/04/2019 lúc 09:04

Ngày 15/4, Tập đoàn Kuehne + Nagel cho ra mắt sản phẩm KN Pledge – giải pháp vận tải đường biển trực tuyến đầu tiên trong ngành vận tải container.

Hàng về Cái Mép cao hơn về Cát Lái 100 USD mỗi container?

Ngày 18/04/2019 lúc 08:20

Ngày 17/4, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và các ngành liên quan đã cùng nhau bàn các giải pháp để nâng cao năng suất, tăng lượng hàng qua hệ thống cảng container nước sâu tại tỉnh này.

Hạn mức giao dịch ví điện tử cá nhân không quá 20 triệu đồng/ ngày

1 Giờ trước

Đó là một trong những điểm nổi bật được nêu trong dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39 hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán đang được Ngân hàng Nhà nước đưa ra lấy ý kiến.

2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh

1 Giờ trước

Năm 2018, tỉnh Quảng Di sản thế giới mới chỉ hút 12 triệu khách tham quanQuảng Ninh với vị trí địa lý sơn thuỷ hữu tình đã tạo nên một "kỳ quan đá dựng giữa trời cao" - Vịnh Hạ Long (trích Nguyễn Trãi). Tuy nhiên, di sản thiên nhiên thế giới này hiện mới chỉ hấp dẫn trên 12,2 triệu lượt khách đến tham quan năm 2018.Tại hội thảo “ Du lịch Quảng Ninh – Vươn tầm di sản” tổ chức tại Trung tâm hội nghị quốc tế - Quần thể nghỉ dưỡng FLC Hạ Long, ngày 19/4, ông Nguyễn Đức Long, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, cho biết Quảng Ninh được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh với các địa điểm du lịch, di tích quốc gia, biển đảo, bãi tắm du lịch nổi tiếng. Tỉnh đã có hệ thống hạ tầng hiện đại, các đường cao tốc từ Hải Phòng - Hạ Long kết nối đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, có đường cao tốc đi sân bay quốc tế Vân Đồn và đang khởi công xây dựng đường cao tốc từ Vân Đồn đến Móng Cái.Ngành Du lịch Quảng Ninh trong năm 2018 đã đón 12,2 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế đạt 5,2 triệu lượt. Tổng thu đạt trên 24.000 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ, thu ngân sách tăng 31% so với cùng kỳ. Các khách sạn, dịch vụ, sản phẩm mới được ra đời. Nhận thức về du lịch của cộng đồng người dân cao hơn.2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP Quảng Ninh - Ảnh 1.Nguồn: Tổng cục Du lịch, UBND tỉnh Quảng Ninh.So với lượng khách du lịch trên cả nước trong năm 2018 là 95,5 triệu lượt, tỷ trọng khách duc lịch đến Quảng Ninh mới chỉ chiếm 12,77%, tương ứng 12,2 triệu lượt. Trong đó, khách du lịch quốc tế đến Quảng Ninh đạt 5,5 triệu lượt, chiếm tỷ trọng 35,48% trong tổng lượng khách quốc tế cả nước. Khách trong nước đến Quảng Ninh cũng chỉ chiếm 8,38%.Tuy nhiên, tỷ trọng khách quốc tế đạt 5,5 triệu lượt (46%) đang áp đảo so với khách nội địa 6,7 triệu lượt (54%) trong tổng lượng khách đến Quảng Ninh.Theo ông Nguyễn Đức Long, tỉnh Quảng Ninh đã đặt ra mục tiêu đưa du lịch thành ngành mũi nhọn với hệ thống hạ tầng hiện đại, trở thành một trong những đầu tàu để phát triển kinh tế. Quảng Ninh đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 15 -16 triệu lượt khách trong đó có 7 triệu lượt khách quốc tế. Đến năm 2030, đặt mục tiêu đạt 30 triệu lượt trong đó khách quốc tế đạt 15 triệu lượt.Năm 2018, du lịch đóng góp 9% GDP. Tỉnh phấn đấu đến năm 2020 du lịch sẽ đóng góp 10 – 11% GDP, tạo 100.000 việc làm trực tiếp và gián tiếp. Việc nâng cao nhận thức về phát triển du lịch để du lịch không chỉ là của cộng đồng doanh nghiệp mà cả của người dân địa phương trên toàn địa bàn tỉnh.Di sản quốc tế - Chất lượng nhân sự phải quốc tếTheo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, Quảng Ninh như một Việt Nam thu nhỏ, là vùng đất có sự đa dạng văn hóa gắn với đặc sắc 22 thành phần dân tộc chiếm gần một nửa trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, có di sản văn hóa tâm linh Yên Tử và kì quan thế giới Vịnh Hạ Long. Philip Kotler, cha đẻ marketing thế giới đã từng đặt câu hỏi tại sao Việt Nam không trở thành “bếp ăn của thế giới”, ý là tại sao không trở thành điểm đến hàng đầu của thế giới. Vậy chúng ta lại đặt câu hỏi, tại sao Quảng Ninh không trở thành điểm đến hàng đầu của Việt Nam và tiến tới của cả thế giới? Để làm được điều này, mỗi người dân có thể trở thành một đại sứ du lịch.Quảng Ninh đặt mục tiêu vươn ra thế giới nhưng vẫn phải giữ gìn vè đẹp hoang sơ của thiên nhiên. Yếu tố đảm bảo thành công là xây dựng được mối liên kết phát triển giữa các tỉnh. Các tỉnh cần ngồi lại với nhau để xây dựng chiến lược tổng thể trong cả khu vực.“Ở đây tôi cũng muốn nói đến sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Tập đoàn FLC, Vin, Sungroup, những đóng góp của họ góp phần tạo nên câu chuyện cổ tích của Quảng Ninh”, ông Lộc nhấn mạnh.Còn theo ông Phạm Ngọc Thủy, Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, trong thời gian gần đây, khách du lịch đến với Quảng Ninh mới biết đến một số địa danh nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Yên Tử... Tuy nhiên, thực tế Quảng Ninh còn có 600 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 5 di tích quốc gia đặc biệt, 3 di tích cấp quốc gia, 8 di tích cấp tỉnh. Có thể thấy, Quảng Ninh được thiên nhiên ưu ái ban cho điều kiện tự nhiên, văn hóa làm tiền đề phát triển du lịch.Từ 30/12/2018, tỉnh Quảng Ninh đã đưa vào khai thác cảng tàu du lịch, cảng đã đón gần 50 chuyến tàu, Vân Đồn cũng đón gần 50.000 người. Kết nối phát triển du lịch phải nằm trong kết nối với các địa phương cả nước và nước ngoài. Các tour lữ hành sẽ có điều kiện phát triển hơn, mở ra hội nhập quốc tế.Các tập đoàn kinh tế đã tạo ra bộ mặt du lịch khang trang hơn, hạ tầng du lịch đều đạt đẳng cấp quốc tế đóng góp mạnh vào phát triển tỉnh. Tuy nhiên, Quảng Ninh chưa có đường hàng không nên kết nối khó khăn. Đã có rất nhiều hãng hàng không đã đặt vấn đề với tỉnh để kết nối các địa bàn trong nước và nước ngoài tạo thành vòng cung khép kín, tiết kiệm thời gian đi lại cho khách du lịch.Muốn khách du lịch đến và ở lại dài ngày chúng ta phải mở rộng không gian du lịch. Cũng đã có các tập đoàn kinh tế lớn đặt hạ tầng tại các địa điểm như Quan Lạn, Cô Tô, Vân Đồn… Nhưng nếu không gian du lịch không được mở rộng sẽ không kéo được khách du lịch mà còn dẫn đến sự quá tải cục bộ.“Để phát triển du lịch đẳng cấp quốc tế, ngoài hạ tầng tốt cần có nguồn nhân lực cao và đẳng cấp quốc tế. Không chỉ là việc đào tạo nhân lực cấp cao mà cả nhân lực cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân, vì du lịch liên quan đến văn hóa, ông Thuỷ nói.Đồng tình quan điểm này, ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Hiệp hội các tổ chức dịch vụ và phát triển kinh doanh Việt Nam, Chủ tịch Tập đoàn FLC, cho rằng nhân lực du lịch của Quảng Ninh còn thiếu và yếu, trong một năm chúng tôi có thể xây khách sạn 1-2 nghìn phòng, cần 3 nghìn lao động, thế nhưng lao động lấy ở đâu? Hay như ở Thanh Hóa, chúng tôi được cấp phép 5 sao cho hạ tầng nhưng nhân lực nói thực mới chỉ 3 sao đổ lại.Quảng Ninh cần mở các khóa đào tạo, cần mời chuyên gia về đào tạo của Việt Nam để đào tạo nhân lực 5 sao để thu tiền được 5 sao, chứ không chỉ thu tiền được 3 sao. đón 12,2 triệu lượt khách đến tham quan, chiếm tỷ lệ gần 13% tổng lượng khách du lịch cả nước.

Đăng ký bán hàng trên Amazon: Cơ hội “lên sàn” cho những doanh nghiệp uy tín

1 Giờ trước

Bộ Công Thương Việt Nam và Amazon mới đây đã thống nhất Chương trình hợp tác trong 3 năm (2019 - 2021) với việc hỗ trợ DN Việt xuất khẩu toàn cầu.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

29°

Mây rải rác

23/04

28° - 36°

Nắng ấm

24/04

28° - 37°

Nhiều mây

25/04

28° - 38°

Nhiều mây

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 22/04/2019 09:55
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,386.4416,485.3516,665.39
EUR25,891.3025,969.2126,617.90
GBP29,802.0130,012.0930,279.24
JPY202.11204.15210.55
SGD16,907.4417,026.6317,212.58
THB714.43714.43744.23
USD23,155.0023,155.0023,255.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 21/04/2019 23:55
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1626016580
DO 0,001S-VVND/L1768018030
DO 0,05S-IIVND/L1738017720
E5 RON 92-IIVND/L1970020090
Xăng RON 95-IIIVND/L2123021650
Xăng RON 95-IVVND/L2138021800
Nguồn: Petrolimex