/

Dịch vụ logistics xuất nhập khẩu trong nền kinh tế toàn cầu

(VLR) Dự án “Kết nối để cạnh tranh: Dịch vụ Logistics XNK trong nền kinh tế toàn cầu” đã được các chuyên gia Jean - Francois Arvis, Monica Alina Mustra, John Panzer (thuộc Ngân hàng Thế giới - WB), Laura Ojala, Tapio Naula (thuộc trường Đại học Kinh tế Turku của Phần Lan) đã và đang có ý nghĩa thiết thực trong ngành dịch vụ logistics. Đặc biệt là VN – một đất nước đang tạm gọi Tạp chí Vietnam Logistics Review trân trọng giới thiệu đến bạn đọc công trình nghiên cứu của nhóm tác giả.

Dự án “Kết nối để cạnh tranh: Dịch vụ Logistics XNK trong nền kinh tế toàn cầu” đã được các chuyên gia Jean - Francois Arvis, Monica Alina Mustra, John Panzer (thuộc Ngân hàng Thế giới - WB), Laura Ojala, Tapio Naula (thuộc trường Đại học Kinh tế Turku của Phần Lan) đã và đang có ý nghĩa thiết thực trong ngành dịch vụ logistics. Đặc biệt là VN – một đất nước đang tạm gọi Tạp chí Vietnam Logistics Review trân trọng giới thiệu đến bạn đọc công trình nghiên cứu của nhóm tác giả.

Sự gia tăng của các chuỗi sản xuất toàn cầu, và mức độ cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt đã khiến dịch vụ logistics trở thành một lợi thế cạnh tranh chiến lược. Mạng lưới sản xuất toàn cầu và các chuỗi cung ứng mở rộng đặt ra đòi hỏi mới đối với việc chuyển dịch hàng hóa một cách ổn định, kịp thời và hiệu quả về chi phí. Khả năng kết nối tới cái được gọi là “mạng Internet vật chất” đang nhanh chóng trở thành một yếu tố chủ chốt quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Với những quốc gia có khả năng kết nối, thì mạng Internet vật chất này giúp họ tiếp cận được những thị trường mới rộng lớn; còn với những quốc gia mà sự kết nối với mạng logistics toàn cầu còn yếu kém, thì cái giá phải trả cho việc đứng ngoài mạng này là rất lớn và ngày càng gia tăng.

Những quốc gia kết nối tốt có thể tiếp cận được với nhiều thị trường và người tiêu dùng hơn: một quốc gia cách xa phần lớn các thị trường lớn - Chi lê là một ví dụ - vẫn có thể là một đối thủ lớn trên thị trường thực phẩm cao cấp thế giới, cung ứng những mặt hàng dễ hỏng như cá và quả tươi cho người tiêu dùng ở châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Còn những nước kết nối kém, cái giá phải trả của việc đứng ngoài mạng là đáng kể và ngày càng gia tăng, và rủi ro mất cơ hội ngày càng lớn - điều này đặc biệt đúng với các nước nghèo nhất nằm sâu trong lục địa, rất nhiều trong số đó nằm ở châu Phi.

Trong thế giới cạnh tranh gay gắt này, chất lượng của dịch vụ logistics có thể tác động đáng kể đến quyết định của DN trong việc lựa chọn quốc gia để đầu tư sản xuất, lựa chọn nhà cung ứng để mua hàng và lựa chọn các thị trường tiêu dùng để xâm nhập. Chi phí logistics cao và đặc biệt là hoạt động dịch vụ nghèo nàn là một rào cản đối với thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và do đó cản trở tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia có chi phí logistics nói chung cao hơn các quốc gia khác sẽ dễ bị mất đi những cơ hội của toàn cầu hóa.

Lấy Chad - một quốc gia không có biển - làm ví dụ. NK một container 20 feet từ Thượng Hải đến thủ đô N’djamena thường mất khoảng 10 tuần với chi phí khoảng 6.500 USD. Trong khi đó, để NK một container như vậy vào một quốc gia không có biển ở Tây hoặc Đông Âu thì chỉ mất khoảng 4 tuần, và tốn chưa đầy 3.000 USD. Thời gian và chi phí chuyên chở từ Thượng Hải đến Douala - cửa ngõ vào Chad - về cơ bản cũng giống như từ Thượng Hải đến các cảng ở Tây Âu. Còn việc đưa hàng từ Douala đến N’djamena và đưa hàng trong nội địa châu Âu do cùng một hãng giao nhận và vận tải quốc tế tiến hành. Vậy điều gì lý giải sự chênh lệch lớn như vậy về mặt thời gian và chi phí?

Hãng giao nhận và vận tải này ở châu Âu sẽ sử dụng một hệ thống thông suốt, không giấy tờ để quản lý hoạt động vận chuyển nội địa từ bãi tập kết hàng rộng 8ha của mình đến cảng cửa ngõ Le Havre. Việc vận chuyển trong nội địa châu Âu chỉ mất chưa đầy 3 ngày. Hãng này còn cung cấp thêm các dịch vụ khác, như cải thiện công tác phân phối nội bộ của khách hàng.

Quy trình ở Chad lại khác. Mặc dù để chuyên chở container đó từ Douala đến N’djamena chỉ mất có 5 ngày, song thời gian thực tế lại có thể lên tới 5 tuần. Hãng vận tải và giao nhận này phải bố trí nhân viên công ty dọc theo hành lang thương mại để đích thân theo dõi hàng hóa và chứng từ thương mại. Và họ luôn phải chuẩn bị tinh thần để làm trung gian giải quyết công việc của khách hàng với hãng vận chuyển nội địa, lực lượng an ninh và rất nhiều cơ quan nhà nước.

ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

Hiệu quả của hoạt động hải quan, cơ sở hạ tầng phục vụ XNK, vận tải nội địa, dịch vụ logistics, các hệ thống thông tin và hiệu quả hoạt động của cảng biển đều là những yếu tố mấu chốt quyết định liệu các quốc gia có thể giao thương hàng hóa và dịch vụ kịp thời và với chi phí thấp hay không. Nhiều yếu tố mấu chốt quyết định hiệu quả dịch vụ logistics - như sự minh bạch của các quy trình, cũng như chất lượng, sự ổn định và đáng tin cậy của dịch vụ - lại không được thể hiện trên những thông tin sẵn có về thời gian và chi phí. Nhưng không dễ gì thu thập thông tin trên phạm vi toàn cầu để xây dựng một thước đo hiệu quả trong lĩnh vực này.

Để khắc phục điều này, WB đã xây dựng Chỉ số Hiệu quả hoạt động Logistics (Logistics Performance Index - LPI) nhằm bước đầu lấp đầy lỗ hổng kiến thức này và giúp các quốc gia xây dựng được những chương trình cải cách lĩnh vực dịch vụ logistics, tạo thuận lợi cho hoạt động giao thương quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh. Thông qua chỉ số này, lần đầu tiên chúng ta có được một đánh giá chuyên sâu, so sánh giữa các quốc gia về những điều còn thiếu và còn yếu trong dịch vụ logistics của họ. Các số liệu khảo sát LPI đã được sử dụng để đo lường một số khía cạnh trong hiệu quả của thủ tục XNK, cũng như sự sẵn có và chất lượng của dịch vụ vận tải.

CÁC THÔNG ĐIỆP

LPI đem lại một cái nhìn sâu hơn về các phí tổn mà dịch vụ logistics yếu kém gây ra cho năng lực cạnh tranh quốc gia - cũng như nguồn cơn gây ra những phí tổn cao hơn đó. Một thông điệp quan trọng rút ra từ cuộc khảo sát các DN chuyên về logistics là: mặc dù chi phí và sự kịp thời có ý nghĩa vô cùng quan trọng, song các DN XNK lại chủ yếu bận tâm về độ tin cậy nói chung của toàn chuỗi cung ứng. Các chi phí liên quan đến việc phòng ngừa sự bất trắc đến nay đã chiếm một phần quan trọng trong tổng chi phí logistics ở các nước đang phát triển. Cả chi phí và chất lượng của dịch vụ logistics đều được quyết định không chỉ bởi hạ tầng cơ sở và hiệu quả làm việc của các cơ quan nhà nước, mà còn bởi sự sẵn có các dịch vụ tư nhân cạnh tranh và chất lượng cao. Ngoài ra, ở các nước đang phát triển, vấn đề về điều kiện địa lý không thuận lợi còn trở nên phức tạp hơn do thiếu vắng một khu vực dịch vụ hiện đại - mà điều này là do tình trạng thể chế yếu kém hoặc có quá nhiều quy định quản lý.

LPI cho thấy những khác biệt đáng kể trong hiệu quả hoạt động logistics giữa các quốc gia và các khu vực. Những khác biệt đó thể hiện ở những chênh lệch vốn đã tiên lượng được giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, và giữa các nước đang phát triển ở cùng một trình độ phát triển. Các nước đứng đầu bảng xếp hạng LPI thường là những đối thủ chủ chốt trong ngành logistics, trong khi những nước cuối bảng xếp hạng lại bị mắc kẹt trong vòng tròn luẩn quẩn giữa việc quy định quá mức, dịch vụ chất lượng kém và đầu tư ít.

Trên thực tế, các nhà chuyên môn đánh giá sự thân thiện của các quy trình cửa khẩu chủ yếu qua mức độ minh bạch và tính dễ tiên liệu/ổn định của các quy trình thông quan. Ngay cả những nước đã thực hiện một chương trình hiện đại hóa ngành hải quan thì sự phối hợp trong các thủ tục cửa khẩu giữa hải quan và các cơ quan khác vẫn là một mối quan ngại quan trọng. Phần lớn các nhà chuyên môn logistics vẫn chưa hài lòng với chất lượng hạ tầng cơ sở ở nhiều nước đang phát triển. Ngay cả ở những nước mà ngành hải quan đã được hiện đại hóa, sự phối hợp trong thủ tục cửa khẩu giữa hải quan và các cơ quan khác vẫn là một quan ngại quan trọng. Hiệu quả hoạt động logistics ngày càng được quyết định nhiều hơn bởi sự sẵn có của các dịch vụ tư nhân có tính cạnh tranh và chất lượng cao, như đại lý hải quan và kho bãi.

Giá trị gia tăng mà LPI đem lại là chỉ số này cung cấp một chuẩn so sánh toàn cầu cho hiệu quả logistics và chất lượng dịch vụ.

CÁC NƯỚC LÀM TỐT DỊCH VỤ LOGISTICS THU LỢI NHIỀU HƠN TỪ QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA

Khoảng cách LPI cũng làm nổi bật sự tương quan giữa hiệu quả hoạt động logistics với kết quả hoạt động thương mại và FDI. Những nước có hoạt động logistics hiệu quả hưởng lợi nhiều hơn từ toàn cầu hóa. Các nước có môi trường logistics thân thiện thường hội nhập tốt hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút FDI định hướng XK. Vì thương mại và FDI là những kênh quốc tế chủ yếu truyền bá tri thức, dịch vụ logistics yếu kém có thể cản trở khả năng tiếp cận bí quyết và công nghệ mới, qua đó làm chậm tốc độ tăng năng suất.

Các nước có xếp hạng LPI cao cũng có xu hướng XK đa dạng hơn. Với những nước đang phát triển không XK dầu thô, độ lệch chuẩn của khoảng cách này là 0,3 trong khi các nước có hiệu quả LPI tốt có chênh lệch LPI ít nhất là 0,5.

Tương tự, các quốc gia đang mở rộng thương mại (tỷ lệ XNK/GDP ngày càng tăng) có xu hướng có LPI cao so với mức thu nhập của họ. So với các nước có cùng mức thu nhập, một quốc gia làm tốt dịch vụ logistics với chênh lệch LPI là 0,5 sẽ có mức độ mở rộng thương mại cao hơn 2%, tăng trưởng hàng năm cao hơn 1%, hoặc mức độ đa dạng của hàng XK cao hơn 40%.

Những cải thiện trong chuỗi cung ứng đóng góp đáng kể vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua giảm chi phí giao dịch. Đồng thời, một nền kinh tế tăng trưởng tốt, đa dạng hóa thì dễ có được ý chí và nguồn lực cần thiết để cải thiện hiệu quả hoạt động logistics.

Các quốc gia mong muốn thu được lợi ích từ quá trình toàn cầu hóa cần xác định đâu là những khía cạnh chủ chốt trong hiệu quả hoạt động logistics, đặc biệt là xét trên mức độ ảnh hưởng của chúng đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia. Đó là chủ đề của phần tiếp theo.

(Kỳ 2: Những cải cách xuyên suốt cần được hỗ trợ)

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Hiệp hội các Nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam chính thức đi vào hoạt động

Ngày 23/03/2019 lúc 05:40

Ngày 22/3/2019, Hiệp hội các Nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (Hiệp hội AVINA) chính thức đi vào hoạt động thông qua kỳ đại hội đầu tiên của nhiệm kỳ (2019 – 2022). PGS.TS. Trần Chủng, nguyên Cục trưởng Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (Bộ Xây dựng) được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội.

Doanh nghiệp Thái Lan muốn chi 7,8 tỷ USD làm điện khí ở Cà Ná

Ngày 22/03/2019 lúc 08:47

Tập đoàn Phát triển năng lượng Gulf đã lên kế hoạch đầu tư dự án điện khí 7,8 tỷ USD tại Cà Ná (Ninh Thuận)...

100% thủy sản, hơn 40% hàng dệt may Việt vào Canada được miễn thuế ngay nhờ CPTPP

Ngày 22/03/2019 lúc 08:34

Khi Hiệp định CPTPP có hiệu lực, 100% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và phần lớn hàng dệt may, đồ gỗ, giày dép Việt Nam sang Canada được xóa bỏ thuế quan ngay lập tức. Đây sẽ là lợi thế lớn cho các ngành sản xuất khi dư địa xuất khẩu vào Canada vẫn còn nhiều.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

34°

Nhiều mây

25/03

26° - 38°

Nhiều mây

26/03

27° - 39°

Nhiều mây

27/03

27° - 39°

Nhiều mây

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 24/03/2019 12:57
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,272.8116,371.0416,549.83
EUR26,023.8826,102.1926,754.21
GBP30,063.9330,275.8630,545.36
JPY202.84204.89210.83
SGD16,962.6117,082.1917,268.75
THB717.20717.20747.12
USD23,150.0023,150.0023,250.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 24/03/2019 11:57
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1488015170
DO 0,001S-VVND/L1606016380
DO 0,05S-IIVND/L1586016170
E5 RON 92-IIVND/L1721017550
Xăng RON 95-IIIVND/L1854018910
Xăng RON 95-IVVND/L1869019060
Nguồn: Petrolimex