Ứng phó với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng Sông Cửu Long

(VLR) Tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với VN và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) rất to lớn. ĐBSCL là một trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất trước thảm họa thiên tai. Theo những kịch bản mới nhất về nước biển dâng được công bố. Nếu nước biển dâng từ 73cm - 100cm vào năm 2100 (năm cuối thế kỷ 21) sẽ có 39% diện tích đất đai ngập lụt, 35% dân số chịu ảnh hưởng xấu do thời tiết phức tạp, ngày một cực đoan hơn, không theo qui luật thông thường.

Tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với VN và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) rất to lớn. ĐBSCL là một trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất trước thảm họa thiên tai. Theo những kịch bản mới nhất về nước biển dâng được công bố. Nếu nước biển dâng từ 73cm - 100cm vào năm 2100 (năm cuối thế kỷ 21) sẽ có 39% diện tích đất đai ngập lụt, 35% dân số chịu ảnh hưởng xấu do thời tiết phức tạp, ngày một cực đoan hơn, không theo qui luật thông thường.

Gần đây, thông tin đại chúng nói nhiều về nạn sụt lở đất ở hai bên sông các tỉnh Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau và nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền ở các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, TP. Cần Thơ gây thiệt hại không ít cho đời sống và sản xuất, đặc biệt an ninh lương thực quốc gia đang bị đe dọa nghiêm trọng. Cả nước đang tập trung đối phó với vấn nạn thời đại này, bằng chương trình hành động và mục tiêu quốc gia chống BĐKH của Chính phủ được các ngành, các địa phương lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình… Điều dư luận băn khoăn là mức độ ứng phó của chúng ta ra sao trước những diễn biến quá nhanh của “BĐKH”.

AN NINH LƯƠNG THỰC QUỐC GIA

Việc xác định mục tiêu bảo vệ an ninh lương thực không thể tính vài ba năm tới mà nên nghĩ cho cả thế hệ sau. Quốc hội và Chính phủ ra quyết định giữ 3,8 triệu héc-ta giành cho lúa nước là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên nên đặt nó trong bối cảnh nào để chúng ta có thể giữ được và phát huy hiệu quả 3,8 triệu héc-ta này đến năm 2020. Chúng tôi thiết nghĩ:

1, Cần “pháp luật hóa” số đất đai trong tầm bảo vệ và quản lý của các ngành chức năng Nhà nước trước sự lấn chiếm vô ý thức của những người nhân danh “đô thị hóa” và “công nghiệp hóa”.

2, Nên xác định ngành nông nghiệp VN với đặc thù đất đai phần lớn phù hợp với canh tác lúa nước, lại nằm trong vùng nhiệt đới ven biển để xây dựng thành “ngành chủ lực” nuôi sống dân số VN và hỗ trợ một phần cho xuất khẩu. Trong bất cứ tình huống nào nông nghiệp cũng phải bảo đảm nhu cầu của quốc gia, từ đó xây dựng chính sách ưu đãi và phát triển đúng đắn (bài học của Nhật Bản).

3, Nông nghiệp và nông thôn VN (tập trung ở hai đồng bằng lớn và duyên hải miền Trung) là nơi bị tác động mạnh nhất của BĐKH, cần đầu tư để giữ bình ổn cuộc sống của dân. Sớm quyết định những vùng cần bảo vệ bằng “công trình cứng” (khu vực xung yếu, đê biển ngăn mặn, đê sống bao bọc vùng đất canh tác) và vùng thích nghi với BĐKH. Khôi phục rừng ngập mặn ven biển và rừng phòng hộ giữ nước mưa dọc dãy Trường Sơn thuộc các tỉnh Trung bộ đã bị tàn phá do xây dựng các công trình thủy lợi và nhà máy thủy điện nhỏ thiếu quy hoạch trong giai đoạn phát triển ban đầu gây ra.

4, Qui hoạch lại hệ thống thủy lợi nội đồng ở các tỉnh ĐBSCL cho hợp lý để tiết kiệm nước ngọt. Nghiên cứu áp dụng giống lúa chịu mặn ở những nơi không giải quyết được thủy lợi, đồng thời xây dựng mô hình sản xuất mới để người dân có thể nhanh chóng thích nghi với điều kiện BĐKH ở đồng bằng.

BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC

Tài nguyên nước là nguồn sống của các quốc gia trên trái đất, nó bảo đảm cho sự phát triển hài hòa và bền vững ở mỗi nước.

Tài nguyên nước bao gồm: nước bề mặt (sông, ngòi, kênh rạch, ao hồ, đầm phá, các đập nước thủy lợi, thủy điện…) và các nguồn, tầng nước dưới lòng đất được tích lũy lâu đời ở các vùng trung du, miền núi cao…

Khi thế giới đi vào công nghiệp và đô thị hóa nhanh chóng, tài nguyên nước trở thành tài nguyên “chia sẻ” vì những con sông lớn chảy qua nhiều quốc gia khác nhau, bị tác động của BĐKH, thường xuyên hạn hán, thiếu nước ngọt trầm trọng vào mùa hè, nhất là ở lục địa châu Phi, như Uganda, Tây Phi, Kenya… nước ngọt chỉ bảo đảm 30-35%/năm.

Theo báo cáo của Qũy Bảo tồn thiên nhiên (WWF) về tình trạng cung cấp nước ở 200 quốc gia thì đã có 50 nước đang phải chịu tình trạng thiếu nước từ trung bình đến mức trầm tọng trong suốt một năm. Viện Nước Quốc tế StocKhomes (SIWI) cho biết hiện có 1,4 tỷ người đang sống tại những khu vực thật sự thiếu nước ngọt và WB ước tính nhu cầu về nước trên thế giới vào năm 2030 sẽ tăng 50% so với hiện nay, chủ yếu do tăng dân số và tăng nhu cầu đa dạng về thực phẩm. Ở VN, dự báo đến năm 2030 sẽ cần 87-90 tỉ m3/năm. Khối lượng này bằng khoảng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nước nội địa. Đây là con số rất đáng lưu ý được nêu ra trong Hội thảo ngày 28.7.2011 tại Đại học Cần Thơ. Vấn đề bảo vệ tài nguyên nước trở thành khâu quan trọng hàng đầu đối với chúng ta trong nhiệm vụ thích ứng với biến đổi khí hậu các châu thổ, đồng bằng mà từ trước đến giờ ít ai nói đến. VN là quốc gia ven biển Đông, có nguồn tài nguyên nước trung bình, canh tác lúa nước và nuôi trồng thủy sản, nổi tiếng với ĐBSCL (thế giới gọi là Delta Mekong) xuất khẩu hàng năm trên 6 triệu tấn gạo.

Nước biển dâng cao, xâm nhập mặn lấn chiếm đất nông nghiệp, sạt lở sông ngòi, suy giảm sản lượng nước làm dòng chảy yếu đi cùng những hiểm họa thời tiết cực đoan đang là thách thức lớn đối với an sinh xã hội và sản xuất ở ĐBSCL hiện nay. Đáng lo ngại nhất là nguồn nước.

VN có khoảng 208 con sông lớn nhỏ, trong đó có 126 con sông có nguồn từ nước ngoài chảy vào nội địa, 76 con sông từ trong nước chảy qua nước khác và 4 con sông chảy vào nhưng sau đó lại chảy ra. Bình thường đủ điều hòa nước cho các nhu cầu an sinh xã hội và sản xuất. Các hệ thống sông lớn như Mê Kông, Sông Hồng, Sông Bằng Giang, Sông Kỳ Cùng, Sông Mã, Sông Cả, Sông Đồng Nai có tổng lượng dòng chảy trên 60% từ các nước láng giềng. Vài chục năm trở lại đây, trong quá trình công nghiệp hóa, khai thác năng lượng dòng chảy và mở rộng diện tích tưới tiêu cho nông nghiệp của những nước thượng nguồn đã gây cho VN nhiều khó khăn. Nay nếu tiếp tục xây 30 nhà máy thủy điện ở thượng lưu và hạ lưu sông Mê Kông theo dự kiến, sẽ đưa hàng chục triệu cư dân của 6 quốc gia hạ lưu vào tình cảnh thiếu nước ngọt để sinh hoạt, sản xuất cũng như tàn phá ghê gớm môi trường sinh thái dọc sông Mê Kông. Liên Hiệp Quốc đã thành lập Ủy ban sông Mê Kông, các chính phủ Mỹ và Nhật Bản đã góp sức đáng kể nhằm hạn chế những việc làm thương hại đến nước khác ở lưu vực Mê Kông. Chúng ta hy vọng rằng những yêu cầu hợp lý, hợp tình của các nước hạ lưu sẽ được dư luận rộng rãi thế giới ủng hộ như đã từng “chung sức” giảm thiểu và ứng phó với thảm họa thời đại là “biến đổi khí hậu toàn cầu”.

ĐỐI PHÓ KỊP THỜI VÀ HÀNH ĐỘNG CƯƠNG QUYẾT

Trong những tài liệu đã công bố, Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu toàn cầu (IPCC) có khuyến cáo các quốc gia 3 biện pháp cơ bản để ứng phó:

-Bảo vệ đầy đủ, tức là dùng hệ thống đê điều kiên cố ngăn ngừa xâm nhập mặn, tôn cao đất đai và các công trình ven biển để đối phó với nước biển dâng cao.

-Thích nghi, tức là cải tạo cơ sở hạ tầng và chuyển đổi tập quán sinh hoạt, canh tác của dân hay nói cách khác là “chung sống”.

- Tái định cư, tức là di dời cơ sở hạ tầng ra khỏi khu vực nguy hiểm lên vùng cao hơn, vào sâu trong lục địa có nghĩa là “bỏ đất”.

Cho đến nay, ở VN chưa nghe ai đề cập đến biện pháp thứ ba vì đất đai hẹp, người đông, nếu “bỏ đất” cũng sẽ là thảm họa mới cho quốc gia, cho dù “bảo vệ” hay “thích nghi” thì vấn đề tạo năng lực ứng phó là cơ bản. Vì vậy, trong ứng phó nên nghiên cứu nhiều khả năng và nhiều phương án phù hợp với địa phương, đồng thời cần lưu ý đến yếu tố phát triển bền vững của từng vùng một. Điều quan trọng nhất là phải đối phó kịp thời. Ví dụ: Lựa chọn phương án “công trình” (đê điều, hệ thống cống thoát kiên cố…) hay “phi công trình” (thích nghi, thay đổi tập quán canh tác, đời sống, áp dụng giống mới, cây con thích hợp…) hoặc kết hợp cả hai biện pháp. Khi xác định chính xác rồi thì cần hành động cương quyết có sự hiệp đồng, giúp đỡ của quốc tế và lực lượng tổng hợp cả nước.

Những diễn biến tiêu cực do thời tiết cực đoan của BĐKH gây ra vừa qua ở ĐBSCL là bài học bổ ích để xác định phương hướng hành động thích hợp trong giai đoạn sắp tới.

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Bình ổn giá thị trường dịp Tết Kỷ Hợi 2019

Ngày 15/12/2018 lúc 11:24

Trong dịp Tết Kỷ Hợi 2019, theo đánh giá của Sở Công Thương Hà Nội, giá cả thịtrường không có biến động bất thường và mức độ tăng thấp hơn Tết năm trước. Trong những tháng cuối năm 2018, giá cả có khả năng sẽ có xu hướng tăng nhẹ.

276 doanh nghiệp kết nối với Hệ thống quản lý hải quan tự động

Ngày 15/12/2018 lúc 11:17

Số lượng doanh nghiệp kết nối tập trung chủ yếu liên quan đến kinh doanh cảng biển, hãng tàu, địa điểm kiểm tra hàng hóa tập trung…

Miễn thuế nhập thiết bị dự án đường sắt Bến Thành - Suối Tiên

Ngày 15/12/2018 lúc 11:13

Bộ Tài chính được giao khẩn trương rà soát về chủng loại hàng hóa và định lượng hàng được miễn thuế nhập khẩu.

Thời tiết

TP Hồ Chí Minh

Hiện tại

32°

Mây rải rác

17/12

24° - 33°

Mây rải rác

18/12

24° - 33°

Mây rải rác

19/12

25° - 34°

Trời đẹp

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 16/12/2018 13:50
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,497.3216,596.9016,778.10
EUR26,117.6026,196.1926,587.22
GBP28,984.2629,188.5829,448.30
JPY199.16201.17206.20
SGD16,727.4216,845.3417,029.25
THB696.35696.35725.40
USD23,255.0023,255.0023,345.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 16/12/2018 11:50
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L15,25015,550
DO 0,001S-VVND/L16,40016,720
DO 0,05S-IIVND/L16,25016,570
E5 RON 92-IIVND/L17,18017,520
Xăng RON 95-IIIVND/L18,45018,810
Xăng RON 95-IVVND/L18,60018,970
Nguồn: Petrolimex
"Thà tiêu tốn 1 giờ bổ sung kiến thức còn hơn cả đời chịu thua kém người khác"

"Thà tiêu tốn 1 giờ bổ sung kiến thức còn hơn cả đời chịu thua kém người khác"

Ngày 28/11/2018 lúc 08:30

1. Kỹ năng giao tiếpGiao tiếp giỏi không có nghĩa là bạn phải là một nhà hùng biện xuất sắc hoặc...