Nhìn về bức tranh "trong ấm ngoài lạnh" của chuỗi cung ứng

Thời sự - Logistics - Ngày đăng : 09:40, 05/06/2026

Chỉ số PMI sản xuất tháng 5/2026 của Việt Nam vừa được công bố đạt ngưỡng 52,8 điểm – mức cao nhất kể từ tháng 2/2026 (thời điểm ngay trước khi nổ ra xung đột ở Trung Đông). Đây là minh chứng cho thấy tốc độ hồi phục mạnh mẽ của khối chế biến chế tạo khi các nhà máy chủ động đẩy mạnh tích trữ nguyên vật liệu để giải quyết lượng đơn hàng tồn đọng.

Thế nhưng, ngay trong cùng một thời điểm, thị trường vận tải biển quốc tế lại phát đi những tín hiệu cực đoan: các hãng tàu lớn đồng loạt áp mức phụ phí mùa cao điểm (PSS) lên tới 2.000 USD/FEU đối với các tuyến hải trình đi Bắc Mỹ.

Sự vận hành ngược chiều giữa xung lực sản xuất nội tại và rào cản chi phí logistics toàn cầu đang định hình lại một kịch bản đầy thách thức cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong hai quý cuối năm 2026.

Bức tranh ASEAN

Thực trạng này không còn là câu chuyện đơn lẻ mà đang bao trùm lên toàn bộ bản đồ sản xuất ASEAN, nơi Đông Nam Á đang chứng kiến một hiện tượng hiếm gặp: phục hồi sản xuất và tăng giá vận tải xảy ra đồng thời, thay vì nối tiếp nhau như các chu kỳ trước. PMI sản xuất đồng loạt bước vào vùng mở rộng trong tháng 5: Việt Nam (52,8), Indonesia (50), Philippines (50,8), Thái Lan (52,6); trong khi các liner công bố danh mục PSS tịnh tiến từ 1.500 – 2.000 USD/FEU (tuyến Á – Mỹ) và 1.200 – 1.600 USD/FEU (tuyến Á – Âu).

z7902446620640_bdd073e4831389ad494da468f550209c.jpg

Cơ chế đằng sau sự tăng giá phi mã này xuất phát từ hiện tượng giải phóng dồn dập các đơn hàng tiêu dùng bị nén từ giai đoạn 2024–2025 tại các thị trường phát triển, va đập trực tiếp với trạng thái mất co giãn cấu trúc của năng lực cung ứng tàu biển – hệ lụy kéo dài từ cuộc khủng hoảng tuyến đường qua kênh đào Suez buộc các hải trình phải vòng qua mũi Hảo Vọng, kéo dài chu kỳ quay vòng của thiết bị và container rỗng.

Trong thế trận vĩ mô đó, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam dù giữ vị thế tăng trưởng đơn hàng vẫn phải chịu áp lực gián tiếp rất lớn, ngay cả khi vận hành dưới phương thức giao hàng truyền thống là FOB (Free on Board). Khi phụ phí PSS leo thang, các buyer có xu hướng trì hoãn booking đối với các lô hàng chưa cấp bách nhằm chờ đợi thị trường hạ nhiệt.

Hệ quả là, hàng hóa thành phẩm dù đã hoàn tất lắp ráp theo đúng tiến độ vẫn phải lưu kho tại Việt Nam. Toàn bộ áp lực tài chính lập tức dội ngược lại doanh nghiệp sản xuất nội địa: chi phí lưu kho bãi tăng vọt, vốn lưu động bị đóng băng trong hàng tồn kho, và chu kỳ hoàn thuế bị kéo dài.

Gánh nặng cần được chia sẻ

Sự gia tăng của chỉ số PMI, nếu đi kèm tăng đơn hàng, tăng mua nguyên vật liệu và tăng tồn kho an toàn, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải gia tăng quy mô vốn lưu động. Khi áp lực này cộng hưởng cùng làn sóng tăng phụ phí PSS, rủi ro thắt chặt thanh khoản sẽ dội ngược lại hệ thống một cách đột ngột.

z7902446641185_751b72d983a14bc38b461fb1da7a0ae1.jpg

Do đó, doanh nghiệp bắt buộc phải xây dựng các kịch bản stress-test với biên độ dự phòng biến động chi phí lớn. Việc thiếu hụt ngân sách dự phòng cho logistics sẽ đẩy doanh nghiệp vào thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc buộc phải sử dụng vốn vay ngắn hạn chi phí cao để duy trì dòng hàng, hoặc phải chấp nhận trì hoãn tiến độ sản xuất – hành vi trực tiếp phá vỡ các cam kết thời gian (lead-time) với đối tác quốc tế. Trước làn sóng này, các doanh nghiệp xuất khẩu nội địa thường bị cô lập trong hai lựa chọn thụ động: cố gắng đàm phán với từng forwarder, hoặc chấp nhận trả đủ mức PSS và nhìn biên lợi nhuận bị bào mòn. Thực tế, các liner vận hành theo cơ chế tập trung và chưa tồn tại tiền lệ thương lượng PSS cho từng vận đơn nhỏ lẻ.

"Biện pháp khả thi để phá vỡ thế bế tắc này là dịch chuyển mô hình mang tính chủ động. Khi shipper tích hợp sản lượng vào một hệ sinh thái gom hàng có quy mô sản lượng đủ lớn, gánh nặng chi phí hoàn toàn có thể chủ động kiểm soát, thay vì thụ động phản ứng theo các bảng báo giá tại thời điểm đặt chỗ."

Bà Đoàn Thị Mộng Dung, Phó phòng Phát triển Kinh doanh U&I Logistics chia sẻ.

Đây chính là nền tảng logic trong cấu trúc giải pháp vận tải quốc tế mà U&I Logistics đang triển khai cho khối doanh nghiệp dệt may và chế biến chế tạo. Bằng cách duy trì vị thế đối tác sở hữu sản lượng chiến lược với các hãng tàu chủ lực trên tuyến xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific) và Á - Âu, kết hợp cùng năng lực phân tích dữ liệu thị trường theo thời gian thực của bộ phận Pricing chuyên trách, mô hình này cho phép dòng chảy hàng hóa của doanh nghiệp được điều độ nhịp nhàng theo điểm rơi chi phí tối ưu của thị trường vận tải, bảo vệ vững chắc biên lợi nhuận gộp trước các biến động chu kỳ vĩ mô.

Anh Huy