Nam châm đất hiếm: Chuỗi nhỏ, tầm ảnh hưởng lớn

Thời sự - Logistics - Ngày đăng : 08:00, 18/10/2026

Nam châm đất hiếm chiếm phần nhỏ trong giá trị ô tô, robot hay tuabin gió, nhưng thiếu nó cả hệ thống có thể dừng. Nam châm neodymi–sắt–bo (NdFeB) vì thế là linh kiện chiến lược. Nút thắt chính nằm ở tách nguyên tố, chuyển oxit thành kim loại, tạo bột hợp kim và chế tạo nam châm. Sở hữu mỏ chưa đủ nếu thiếu năng lực ở những công đoạn này.

Nút thắt thật sự nằm sau mỏ

Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), nhu cầu đất hiếm dùng làm nam châm, chủ yếu gồm neodymi, praseodymi, dysprosi và terbi, đã tăng gấp đôi từ năm 2015 và dự kiến tăng hơn 30% đến năm 2030. Nam châm vĩnh cửu chiếm khoảng 95% giá trị tiêu thụ đất hiếm, phục vụ xe điện, tuabin gió, động cơ, robot, trung tâm dữ liệu và quốc phòng.

Nguồn cung càng tập trung ở các khâu sau khai thác. Năm 2024, Trung Quốc chiếm khoảng 60% sản lượng khai thác đất hiếm dùng làm nam châm, 91% sản lượng tinh luyện và 94% nam châm vĩnh cửu thiêu kết. Mở thêm mỏ chưa tạo được chuỗi thay thế nếu oxit vẫn phải đưa về cùng hệ sinh thái để tách, tạo hợp kim và chế tạo nam châm.

70157.jpg

Các dự án ngoài Trung Quốc có thể đưa năng lực khai thác lên hơn 50.000 tấn đất hiếm vào năm 2035, nhưng năng lực tinh luyện, tách nguyên tố dưới 40.000 tấn; sản xuất kim loại, hợp kim và nam châm thành phẩm chỉ khoảng 18.000 tấn, quy đổi theo hàm lượng đất hiếm. Năng lực ở các khâu sau tinh luyện của nhóm này mới bằng khoảng một phần ba năng lực khai thác.

Chuyển oxit thành kim loại và chế tạo nam châm khó mở rộng hơn khai thác. Thành phần, kích thước hạt bột hợp kim phải được kiểm soát chặt trước khi ép, thiêu kết, gia công, phủ bảo vệ và từ hóa. IEA lưu ý công nghệ như khuếch tán biên hạt còn phụ thuộc vào số ít nhà cung cấp thiết bị ngoài Trung Quốc, với chi phí và thời gian cung ứng cao hơn.

Quốc gia có tài nguyên cần xác định công đoạn có thể làm chủ. Thiếu năng lực chế biến, sản xuất nam châm vẫn đồng nghĩa phụ thuộc bên ngoài ở các khâu tạo giá trị lớn.

Linh kiện nhỏ đòi hỏi dịch vụ logistics chuyên biệt

Quặng tinh, oxit, kim loại, bột hợp kim và nam châm thành phẩm khác nhau về giá trị, độ tinh khiết, yêu cầu chống nhiễm tạp, truy xuất và bảo vệ hàng. Càng qua nhiều công đoạn chế biến, lô hàng càng nhỏ nhưng giá trị trên đơn vị khối lượng càng cao. Chậm trễ, mất mát hoặc sai chứng từ vì thế có thể gây tác động lớn.

Kiểm soát xuất khẩu có thể làm gián đoạn giao hàng. Từ tháng 4/2025, Trung Quốc kiểm soát nhiều mặt hàng đất hiếm trung bình và nặng, gồm vật liệu nam châm chứa terbi, dysprosi và samari. Năm 2026, thủ tục cấp phép vẫn ảnh hưởng chuỗi ngoài Trung Quốc. Trước khi đặt chỗ, cần kiểm tra mã phân loại hải quan (HS), thành phần, mục đích sử dụng và yêu cầu giấy phép.

9263.jpg

Khi vận chuyển hàng không, lô nam châm có từ trường bên ngoài đủ mạnh có thể thuộc mã UN 2807, vật liệu từ hóa. Người gửi có thể phải đo cường độ từ trường, dùng biện pháp che chắn và xác nhận với hãng bay. Lô nhỏ khai sai vẫn có thể bị từ chối chuyên chở, làm trễ sản xuất.

Nam châm NdFeB có thể giòn; nhiều cấp chất lượng cần lớp phủ chống ăn mòn. Kho phải phân tách theo cấp chất lượng, kích thước, hướng từ hóa và lô sản xuất. Hai chi tiết cùng kích thước nhưng khác thành phần chưa chắc thay thế được. Hệ thống quản lý kho cần theo dõi đến mã chi tiết và lô hàng.

Yêu cầu bảo vệ tăng cùng giá trị hàng. Oxit, bột hợp kim có thể rất đắt dù khối lượng nhỏ; nam châm đi trực tiếp vào động cơ hoặc cơ cấu chấp hành. Cần ghi nhận từng lần bàn giao, kiểm soát ra vào, đối chiếu tồn kho và giao nhận an toàn theo giá trị chiến lược.

Cần kiểm soát toàn chuỗi: khai thác, tạo quặng tinh; tách thành oxit; chuyển thành kim loại; tạo hợp kim, bột; chế tạo nam châm; tổ chức vận chuyển và tuân thủ quy định. Đầu tư vào mỏ nhưng thiếu tinh luyện, nhà máy nam châm sẽ khiến doanh nghiệp có tài nguyên mà vẫn phụ thuộc công nghệ bên ngoài. Một lô hàng nhỏ có thể quyết định hoạt động của nhà máy lớn, nên chất lượng và lịch giao cần được kiểm soát chặt.

Muốn vào chuỗi phải đi đến vật liệu và nam châm

Tại cuộc họp ngày 28/5/2026 về dự thảo Chiến lược quốc gia về đất hiếm đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Chính phủ nhấn mạnh xây dựng chuỗi công nghiệp đồng bộ từ khai thác, chế biến đến sử dụng, từng bước tự chủ công nghệ chế biến sâu.

Khung pháp lý mới gắn khai thác với chế biến sâu, tăng giá trị gia tăng và hạn chế xuất khẩu nguyên liệu chưa đạt chuẩn. Phần khó là tạo oxit, kim loại, hợp kim, bột và nam châm đáp ứng thông số công nghiệp, thay vì chỉ lấy quặng khỏi lòng đất.

Theo IEA, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia ngoài Trung Quốc có dự án tinh luyện hoặc chế biến tiếp theo đã công bố. Tuy nhiên, tổng năng lực của nhóm này còn nhỏ. Cơ hội là chọn công đoạn có thể tạo lợi thế: tách nguyên tố, kim loại và hợp kim đất hiếm, vật liệu nam châm hoặc nam châm thành phẩm.

Logistics cần được tính đến ngay trong thiết kế công nghiệp. Nhà máy tách đất hiếm cần nguồn quặng tinh ổn định, kho hóa chất; nhà máy kim loại, hợp kim cần kiểm soát độ tinh khiết và oxi hóa; nhà máy nam châm cần truy xuất lô, kho an toàn, tuân thủ vận chuyển hàng không và giao đúng thời điểm tới dây chuyền lắp ráp.

225470.jpg

Liên kết đất hiếm với điện tử, xe điện và tự động hóa cần hệ sinh thái nhà cung cấp. Nhà máy nam châm nên gần cơ sở sản xuất động cơ, cơ cấu chấp hành, gia công chính xác, phủ bảo vệ, kiểm thử và tái chế. Logistics đảm nhiệm việc điều phối các công đoạn này.

Nam châm từ động cơ, ổ đĩa cứng hoặc xe điện hết vòng đời có thể cung cấp đất hiếm tái chế. Cần tổ chức thu hồi, tháo dỡ, phân loại và truy xuất nguồn gốc. Với nguồn cung tập trung, thu hồi trong nước vừa hỗ trợ mục tiêu môi trường, xã hội và quản trị, vừa tăng khả năng chống chịu gián đoạn.

Doanh nghiệp logistics và giao nhận Việt Nam có thể phát triển dịch vụ chuyên biệt: kiểm soát lô, độ tinh khiết; phân loại hải quan; kiểm tra yêu cầu xuất khẩu; lưu kho an toàn; tuân thủ vận chuyển hàng không; giao đúng thời điểm và thu hồi hàng.

Nam châm đất hiếm có tầm ảnh hưởng kinh tế lớn: chỉ chiếm phần nhỏ trong giá xe, nhưng thiếu chúng có thể dừng cả dây chuyền.

Năng lực cạnh tranh cần chuỗi liên kết từ mỏ, tách nguyên tố, tạo kim loại, hợp kim và nam châm đến sản xuất thiết bị. Với Việt Nam, hiệu quả phải được đánh giá bằng khả năng chuyển tài nguyên thành vật liệu, linh kiện công nghiệp giá trị cao, bên cạnh quy mô trữ lượng.

Minh Chương