Thứ bảy, 19/06/2021Hotline: 0816 886 786Quảng cáo

Sự cấp thiết về chuỗi cung ứng lạnh tại đồng bằng sông Cửu Long

(VLR) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng góp 40% vào giá trị sản xuất nông nghiệp của quốc gia, với hơn 50% sản lượng gạo, 90% gạo xuất khẩu, 65% sản lượng thủy sản và 70% trái cây. Tuy nhiên, giá trị nông sản tại khu vực này tăng hay giảm lại đang phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng lạnh.

Thách thức cho logistics ngành nông thủy sản

ĐBSCL là vùng nông nghiệp trọng điểm của quốc gia, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân. Là vùng đất giàu tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp nhưng ĐBSCL lại có các chỉ số sản xuất kinh doanh kém hiệu quả hơn so với cả nước, đặc biệt là khâu dự trữ, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ hàng hóa. Một trong những nguyên nhân là do vùng chưa có chuỗi cung ứng dịch vụ logistics hoàn chỉnh, trong đó yêu cầu về

chuỗi cung ứng lạnh đang rất cấp bách đối với chuỗi giá trị nông thủy sản của khu vực này. Để giúp tăng thu nhập của nông dân và tăng giá trị sản phẩm cho nông nghiệp tại khu vực ĐBSCL cần phải đẩy mạnh kết nối vận chuyển đa phương thức. Duy trì hệ thống giao thông thuận tiện là một nhiệm vụ quan trọng để đáp ứng nhu cầu vận chuyển dòng sản phẩm tươi sống một cách kịp thời.

Kết nối logistics ĐBSCL hiện còn nhiều yếu kém. Hệ thống cảng còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ, năng lực thấp, ít cảng container chuyên dùng, chưa phát huy được lợi thế về giao thông đường thủy nội địa. Đồng thời, việc vận hành và kết nối thiếu đồng bộ, chưa hiệu quả giữa các phương thức vận tải trong nội vùng ĐBSCL và giữa vùng với thị trường xuất khẩu. Trong đó, việc thiếu trung tâm logistics, chuỗi cung ứng lạnh tiếp tục gián đoạn chuỗi giá trị nông sản của khu vực nhiều tiềm năng này.

Quyết định 1012/QĐ-TTg ngày 03/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, nhưng vùng ĐBSCL vẫn chưa có trung tâm logistics được công nhận. Bởi theo Quyết định này, tiểu vùng kinh tế trung tâm ĐBSCL sẽ có một Trung tâm logistics hạng II với quy mô tối thiểu 30ha đến năm 2020 và trên 70ha đến năm 2030; phạm vi hoạt động chủ yếu gồm các tỉnh và TP. Cần Thơ, Trà Vinh, Hậu Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và An Giang. Từ đó kết nối các cảng cạn, cảng sông (Cần Thơ, Mỹ Thới), cảng hàng không, nhà ga, bến xe, các khu công nghiệp, các cửa khẩu (thuộc các tỉnh Kiên Giang, An Giang). Ngành logistics vẫn đang kỳ vọng những trung tâm logistics trong tương lai sẽ được hoàn thành, giảm chi phí logistics cho vùng ĐBSCL.

Sự cấp thiết về chuỗi cung ứng lạnh

Chi phí logistics tại ĐBSCL cao vì phần lớn người làm dịch vụ nhỏ lẻ, tự phát và thiếu các kho bãi để đáp ứng trữ hàng, xử lý nguyên liệu, bảo quản... Hạ tầng cảng và phương tiện còn thô sơ, kém hiện đại. Từ đó giá nông sản của khu vực này gặp nhiều khó khăn cạnh tranh trên thị trường.

Hình thành, mở rộng chuỗi lạnh là một trong những thách thức lớn để vận hành ngành logistics, đặc biệt với nông sản tại khu vực ĐBSCL. Một chuỗi cung ứng lạnh cho thực phẩm dễ hỏng đòi hỏi việc xử lý sản phẩm không bị gián đoạn trong môi trường nhiệt độ phù hợp trong các bước sau thu hoạch bao gồm: thu hoạch, thu thập, đóng gói, xử lý, lưu trữ, vận chuyển và tiếp thị cho đến tay của người tiêu dùng. Các phân đoạn chính của chuỗi lạnh tích hợp, bao gồm: đóng gói và làm mát các sản phẩm thực phẩm tươi sống; chế biến thực phẩm; kho lạnh (kho ngắn hoặc dài hạn của thực phẩm ướp lạnh hoặc đông lạnh); phân phối (vận chuyển lạnh và nhập kho tạm thời trong điều kiện kiểm soát nhiệt độ); tiếp thị (lưu trữ trong tủ lạnh hoặc tủ đông và trưng bày tại chợ đầu mối, chợ bán lẻ và hoạt động dịch vụ thực phẩm). Chuỗi cung ứng lạnh cũng là lập kế hoạch, quản lý tương tác và chuyển tiếp giữa năm phân khúc này, để giữ thực phẩm ở nhiệt độ tối ưu, duy trì chất lượng, an toàn thực phẩm và phòng ngừa thiệt hại kinh tế, tăng giá trị nông sản của khu vực và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Để có được chuỗi cung ứng lạnh như thế này, Chính phủ, Bộ, ngành phải chung tay vì mục tiêu phát triển logistics nông nghiệp Việt Nam, xây dựng chuỗi cung ứng lạnh vững mạnh tại khu vực ĐBSCL.

Như vậy, đảm bảo hàng hóa không bị hư hỏng ngành thực phẩm đang ngày càng phụ thuộc vào chuỗi cung ứng lạnh. Công ty Cổ phần Tư vấn Portcoast tính toán rằng nếu khu vực này giảm 1% chi phí hậu cần mỗi năm, nó có thể tiết kiệm khoảng 2.000 tỷ đồng (87 triệu USD). Chưa kể, nếu chuỗi cung ứng lạnh được hình thành, có lẽ không chỉ dừng lại ở con số đó mà điệp khúc “được mùa mất giá” tại khu vực này sẽ không còn là nỗi lo của người nông dân và niềm tự hào về nông sản Việt Nam sẽ được nhân lên gấp nhiều lần.

MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG LẠNH TIÊU BIỂU
Theo báo cáo của Emerson Climate Technologies Ấn Độ, mỗi năm sản phẩm tươi trị giá 133 tỷ USD bị vứt đi vì nước này thiếu chuỗi cung ứng lạnh và phương tiện vận chuyển. Để thúc đẩy lĩnh vực chuỗi cung ứng lạnh, Ấn Độ - đất nước xuất khẩu nông sản đứng thứ 2 thế giới, đã hình thành Trung tâm phát triển chuỗi lạnh quốc gia (NCCD) vào năm 2011 với 135 dự án chuỗi lạnh, 40 công viên thực phẩm lớn, NCCD được thành lập để thúc đẩy và phát triển chuỗi lạnh tích hợp ở Ấn Độ cho các sản phẩm nông nghiệp tại đất nước này. Mục tiêu chính của trung tâm là đề xuất các tiêu chuẩn và cơ sở hạ tầng chuỗi lạnh, đề xuất các hướng phát triển nguồn nhân lực và khung chính sách phù hợp để phát triển chuỗi lạnh. Ấn Độ có 6.300 cơ sở lưu trữ lạnh trải đều trên cả nước, đã được lắp đặt công suất 30,11 triệu tấn. NCCD là đại diện của các bên liên quan như: Các cơ quan Chính phủ từ các Bộ khác nhau chịu trách nhiệm thực hiện các đề án liên quan đến phát triển NCCD, công nghiệp, Hiệp hội CII và FICCI, Nhà cung cấp dịch vụ, Tổ chức chuyên gia, Hiệp hội người trồng... tư vấn, chứng nhận kho lạnh và xếp hạng kho, Chương trình R & D và Phát triển nguồn nhân lực ứng dụng để đáp ứng yêu cầu về sức mạnh nhân lực của ngành chuỗi lạnh trong nước. NCCD tư vấn cho Chính phủ trong các vấn đề liên quan đến phát triển cơ sở hạ tầng chuỗi lạnh tích hợp trong nước. Kết quả là, ngành nông nghiệp Ấn Độ đã chứng kiến một sự tăng trưởng cải thiện về tốc độ tăng trưởng trong những thời gian vừa qua. Điều này chắc chắn sẽ giúp giảm tổn thất sau thu hoạch của nông sản dễ hỏng và đảm bảo tính sẵn có ổn định của sản phẩm do đó đảm bảo giá nông sản cho nông dân sản xuất và rau quả tươi cho người tiêu dùng với giá phải chăng.
Nguyễn Hoàng Ngân

Ý kiến bạn đọc

Chưa có ý kiến nào. Hãy là người để lại ý kiến đầu tiên.

Ý kiến của bạn

0

Tối thiểu 10 chữTiếng Việt có dấuKhông chứa liên kếtGửi bình luận

Vui lòng nhập mã bảo mật để gửi bình luận lên hệ thống
Gửi bình luận

Sản lượng hàng hóa thông qua cảng Cửa Lò ước đạt 2,35 triệu tấn

12 Giờ trước

Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế vì dịch bệnh Covid – 19, sản lượng hàng hóa thông qua cảng Cửa Lò 6 tháng đầu năm 2021 ước đạt 2,350 triệu tấn, tăng 27% so với cùng kỳ.

Hòa Phát ủng hộ tỉnh Hưng Yên 10 tỷ đồng phòng, chống dịch COVID-19

5 Giờ trước

Ngày 18/6/2021, ông Hoàng Quang Việt, Giám đốc Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển đô thị Hòa Phát đã đại diện Tập đoàn Hòa Phát trao tặng 10 tỷ đồng hỗ trợ công tác phòng chống dịch COVID-19 tại tỉnh Hưng Yên. Tính đến nay, Hòa Phát đã ủng hộ gần 117 tỷ đồng hỗ trợ các Bộ ngành, địa phương phòng chống dịch.

Tân Cảng - Cái Mép thiết lập kỷ lục mới về sản lượng xếp dỡ tàu mẹ tại Việt Nam

6 Giờ trước

Chỉ trong vòng chưa đầy 7 ngày, mức kỷ lục sản lượng xếp dỡ tàu mẹ tại Cảng quốc tế Tân Cảng - Cái Mép (TCIT) đã liên tục được thiết lập, từ 14.235 TEU trên con tàu Meishan Bridge vào 10/6/2021 mới đây và vừa bị “soán ngôi” bởi mức 15.615 TEU trên tàu Monaco Bridge vào lúc 09:00 ngày 19/6/2021. Đây cũng là mức sản lượng xếp dỡ trên một tàu mẹ cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay, liên tục khẳng định, nâng tầm vị thế của ngành cảng biển Việt Nam nói chung và khu vực cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải cũng như cảng TCIT nói riêng.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang EU cán mốc 16,1 tỷ USD

11 Giờ trước

Những chuyến hàng Việt xuất sang EU vẫn tăng, đưa kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này cán mốc 16,1 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2020.

Thời tiết

Hiện tại

°

Nguồn: Weathers Underground

Tỷ giá ngoại tệ

Tỷ giá ngoại tệ cập nhật vào 19/06/2021 20:45
Mã NTTiền mặtChuyển khoảnBán
AUD16,933.4817,104.5317,640.80
EUR26,603.4726,872.1927,993.33
GBP31,233.8631,549.3532,538.52
JPY202.59204.64213.18
SGD16,736.4216,905.4717,435.51
THB648.41720.45747.51
USD22,880.0022,910.0023,110.00
Nguồn: Vietcombank

Giá xăng dầu

Giá xăng, dầu cập nhật ngày 19/06/2021 11:45
Loại xăng dầuĐơn vịGiá vùng 1Giá vùng 2
Dầu hỏaVND/L1441014690
DO 0,001S-VVND/L1579016100
DO 0,05SVND/L1544015740
Xăng E5 RON 92-IIVND/L1904019420
Xăng RON 95-II,IIIVND/L2016020560
Xăng RON 95-IVVND/L2026020660
Nguồn: Petrolimex