Trong một hệ thống logistics hiện đại, cảng biển không thể gánh toàn bộ chức năng gom hàng, thông quan, lưu bãi, phân phối và kết nối hậu phương. Cảng cạn và ICD chính là những nút trung gian giúp đưa dịch vụ cảng vào sâu trong nội địa, giảm áp lực cho cảng biển, tối ưu vận tải đa phương thức và nâng năng lực cạnh tranh của chuỗi cung ứng.
Không thể phát triển cảng biển nếu thiếu hậu phương logistics
Việt Nam có nhiều lợi thế về cảng biển, đặc biệt tại các cụm cảng lớn như Hải Phòng – Lạch Huyện, Cái Mép – Thị Vải, TP.HCM, Đà Nẵng, Quy Nhơn và các cảng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, năng lực cảng biển không chỉ được đo bằng độ sâu luồng, số bến, cẩu bờ hay sản lượng container. Một cảng biển mạnh cần có hậu phương logistics mạnh.
Hậu phương ấy bao gồm khu công nghiệp, trung tâm phân phối, kho ngoại quan, đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, cảng cạn, ICD và hệ thống dịch vụ kết nối. Nếu hàng hóa từ nhà máy đến cảng phải đi bằng đường bộ trong tình trạng tắc nghẽn, nếu container phải chờ lâu ở khu vực cảng, nếu thủ tục chỉ dồn về cảng biển, nếu thiếu điểm gom hàng nội địa, chi phí logistics sẽ tăng và lợi thế cảng biển bị suy giảm.

Cảng cạn và ICD ra đời để giải quyết bài toán đó. Đây là những điểm kết nối nội địa, nơi có thể thực hiện nhiều chức năng: tập kết container, làm thủ tục hải quan, lưu kho, gom hàng, chia tách hàng, kiểm tra chuyên ngành, kết nối vận tải đường bộ – đường sắt – đường thủy và tổ chức dịch vụ logistics gần khu sản xuất. Nói cách khác, cảng cạn giúp “kéo dài cánh tay” của cảng biển vào sâu trong nội địa.
ICD không chỉ là bãi container
Một trong những cách hiểu hạn chế là xem ICD như một bãi chứa container. Nếu chỉ dừng ở chức năng lưu bãi, ICD khó tạo khác biệt lớn. ICD hiện đại phải là một trung tâm logistics tích hợp, có khả năng xử lý dòng hàng, dòng chứng từ và dòng dữ liệu.
Một ICD tốt cần trả lời được nhiều nhu cầu cùng lúc: doanh nghiệp có thể đưa hàng đến đó để làm thủ tục, đóng/rút container, gom hàng lẻ, lưu kho, kiểm tra, kết nối với cảng biển, đi đường sắt, đi đường bộ hoặc chuyển tiếp sang vận tải thủy. Hải quan có thể quản lý rủi ro và xử lý hồ sơ trước khi hàng đến cảng. Hãng tàu, forwarder và nhà vận tải có thể tổ chức dòng container hiệu quả hơn. Cảng biển có thể giảm áp lực bãi và giảm tắc nghẽn cửa cảng.
Giá trị của ICD nằm ở khả năng giảm “điểm nghẽn cuối” trước cảng biển. Nếu mọi container đều phải đổ về khu vực cảng để làm thủ tục, lưu bãi, chờ lịch tàu và điều phối xe, cảng biển sẽ chịu áp lực rất lớn. Nếu một phần chức năng đó được phân bổ về ICD, hệ thống sẽ linh hoạt hơn.
ICD không nên được hiểu đơn giản là bãi container nội địa. Một ICD đúng nghĩa phải là nút logistics đa phương thức: gom hàng, làm thủ tục, kết nối vận tải, chia sẻ dữ liệu, giảm áp lực cảng biển và đưa dịch vụ cảng đến gần khu sản xuất hơn.
Ba vai trò chiến lược của cảng cạn
Vai trò thứ nhất là giảm chi phí logistics. Khi ICD đặt gần vùng sản xuất hoặc khu công nghiệp, doanh nghiệp có thể rút ngắn quãng đường vận chuyển rời rạc, gom hàng tốt hơn, giảm xe rỗng, giảm thời gian chờ tại cảng và tối ưu lịch vận tải. Nếu ICD kết nối được với đường sắt hoặc đường thủy nội địa, chi phí trên mỗi container có thể được cải thiện đáng kể trong những tuyến phù hợp.
Vai trò thứ hai là thúc đẩy vận tải đa phương thức. Một trong những điểm yếu của logistics Việt Nam là phụ thuộc nhiều vào đường bộ. Đường bộ linh hoạt, nhưng khi lưu lượng tăng, chi phí, ùn tắc, phát thải và rủi ro chậm trễ cũng tăng. Cảng cạn có thể trở thành điểm chuyển tải giữa đường bộ, đường sắt và đường thủy, giúp hệ thống vận tải cân bằng hơn.

Vai trò thứ ba là nâng khả năng thông quan và quản trị dữ liệu. Nếu ICD được tích hợp với hải quan số, cảng điện tử, hệ thống hãng tàu, forwarder và doanh nghiệp, dữ liệu hàng hóa có thể được xử lý sớm hơn. Điều này đặc biệt quan trọng với hàng xuất khẩu cần đi đúng lịch tàu, hàng nhập khẩu cần đưa nhanh vào nhà máy, hàng lạnh cần giảm thời gian chờ và hàng thương mại điện tử cần xử lý khối lượng lớn.
Cảng cạn phải gắn với quy hoạch vùng
Một ICD không thể phát huy hiệu quả nếu đặt sai vị trí. Vị trí của ICD phải gắn với nguồn hàng, khu công nghiệp, hành lang vận tải, cảng biển, cửa khẩu, ga đường sắt, tuyến thủy nội địa và trung tâm tiêu thụ. Nếu ICD nằm xa nguồn hàng hoặc thiếu kết nối, nó chỉ trở thành một bãi trung chuyển tốn thêm chi phí.
Vì vậy, quy hoạch cảng cạn cần đi cùng quy hoạch vùng kinh tế và mạng lưới logistics. Miền Bắc cần các ICD kết nối khu công nghiệp với Hải Phòng – Lạch Huyện, cửa khẩu phía Bắc và đường sắt liên vận. Miền Nam cần ICD kết nối vùng sản xuất TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu với Cái Mép – Thị Vải, cảng TP.HCM, đường thủy nội địa và tương lai là sân bay Long Thành. Đồng bằng sông Cửu Long cần các điểm logistics gắn với nông sản, thủy sản, chuỗi lạnh, đường thủy và xuất khẩu qua cảng biển nước sâu.
Điểm quan trọng là không nên phát triển ICD theo phong trào. Mỗi địa phương đều muốn có trung tâm logistics, nhưng nếu thiếu hàng hóa, thiếu kết nối và thiếu dịch vụ, đầu tư sẽ phân tán. Cần xác định rõ ICD nào là nút chiến lược, ICD nào phục vụ vùng sản xuất, ICD nào phục vụ cửa khẩu, ICD nào phục vụ cảng biển, ICD nào phục vụ thương mại điện tử hoặc chuỗi lạnh.
Dữ liệu là điều kiện để ICD trở thành nút thông minh
Trong giai đoạn mới, ICD không thể vận hành chỉ bằng cổng, bãi và giấy tờ. ICD cần trở thành một nút dữ liệu. Doanh nghiệp cần biết container đang ở đâu, đã làm thủ tục chưa, có lịch tàu chưa, xe nào sẽ lấy hàng, tình trạng niêm phong thế nào, phí phát sinh ra sao, thời gian chờ bao lâu, phát thải ước tính thế nào.
Nếu ICD có hệ thống số tốt, nó có thể phối hợp với cảng biển, hải quan, hãng tàu, forwarder, nhà vận tải và chủ hàng. Khi đó, hàng hóa không chỉ được chuyển tải, mà được điều phối. Đây là khác biệt giữa một bãi container truyền thống và một cảng cạn thông minh.

Dữ liệu cũng giúp ICD hỗ trợ logistics xanh. Khi biết tuyến đường, phương tiện, tải trọng, thời gian chờ và tỷ lệ xe rỗng, ICD có thể giúp giảm phát thải trong vận tải nội địa. Khi kết nối được đường sắt hoặc đường thủy, ICD có thể hỗ trợ chuyển đổi phương thức vận tải theo hướng bền vững hơn.
Cảng cạn và ICD là những mắt xích quan trọng để Việt Nam phát triển logistics đa phương thức. Nếu cảng biển là cửa ra thế giới, thì ICD là những cánh cửa nội địa đưa hàng hóa từ vùng sản xuất đến mạng lưới thương mại toàn cầu một cách hiệu quả hơn.
Với Việt Nam, phát triển ICD không chỉ là xây thêm bãi container. Đó là xây dựng các nút logistics thông minh, có kết nối, có dữ liệu, có dịch vụ và có vai trò rõ trong quy hoạch vùng. Khi cảng cạn được tổ chức đúng, hàng hóa sẽ không còn bị dồn vào vài cửa ngõ lớn, chi phí logistics có thể giảm, vận tải đa phương thức có cơ hội phát triển và chuỗi cung ứng Việt Nam sẽ linh hoạt hơn.