BSR đã làm chủ công nghệ sản xuất nhiên liệu đặc chủng cho máy bay, tàu chiến và tàu ngầm. Thành quả này giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, tiết kiệm chi phí và hình thành năng lực công nghệ lưỡng dụng có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng, quốc phòng và khả năng ứng phó khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn.

Từ yêu cầu đặc biệt đến năng lực làm chủ công nghệ
Ngày 22/7/2026, BSR tổ chức hội thảo đánh giá công trình “Nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất nhiên liệu đặc chủng phục vụ quốc phòng - an ninh tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất”. Công trình được Petrovietnam lựa chọn đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7, ghi nhận hành trình nghiên cứu gắn với yêu cầu bảo đảm nhiên liệu cho lực lượng vũ trang.
Bài toán không chỉ là tạo ra sản phẩm mới. Nhiên liệu quốc phòng phải đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật nghiêm ngặt, tương thích với trang bị quân sự, ổn định khi bảo quản dài ngày và vận hành an toàn trong nhiều điều kiện. Đồng thời, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất vẫn phải duy trì sản xuất liên tục khi chuyển đổi giữa nhiên liệu thương mại và nhiên liệu đặc chủng.
Từ năm 2012, BSR phối hợp với Cục Xăng dầu, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga và các đơn vị chuyên môn nghiên cứu nguyên liệu, thiết lập quy trình, sản xuất mẫu và thử nghiệm. Giai đoạn 2012-2014, Jet A-1K và DO L-62 vượt qua các bước kiểm nghiệm trong nước, quốc tế và trên thiết bị quân sự. Hai tiêu chuẩn TCVN/QS 1755:2014 và TCVN/QS 1754:2014 được xây dựng làm cơ sở quản lý chất lượng.

BSR đã giải quyết đồng thời ba yêu cầu khó: nhiên liệu phải đạt tiêu chuẩn quân sự nghiêm ngặt; Nhà máy Lọc dầu Dung Quất vận hành an toàn, liên tục; và dây chuyền có thể chuyển đổi linh hoạt giữa sản phẩm thương mại với nhiên liệu đặc chủng. Năng lực này cho thấy một nhà máy lọc dầu dân dụng có thể phát triển thành nền tảng công nghệ lưỡng dụng, phục vụ hiệu quả cả kinh tế và quốc phòng.
Chuỗi cung ứng trong nước cho nhiệm vụ chiến lược
BSR hiện sản xuất Jet A-1K, DO L-62 và xăng RON 83 cho máy bay quân sự, tàu chiến, tàu ngầm cùng một số thiết bị đặc biệt. BSR là đơn vị thứ hai ngoài lãnh thổ Liên bang Nga được cơ quan chuyên môn của Nga cấp phép sản xuất Jet A-1K và DO L-62 dùng cho trang bị quân sự do Nga chế tạo.
Kết quả sử dụng thực tế cho thấy nhiên liệu sản xuất tại Dung Quất bảo đảm an toàn, ổn định và hiệu suất tốt. Jet A-1K được đánh giá qua nhiều mốc giờ bay; DO L-62 được sử dụng trên tàu ngầm, tàu chiến trong thời gian dài. Việc kiểm chứng trên phương tiện tác chiến tạo cơ sở để quân đội đưa sản phẩm vào kế hoạch dự trữ và sử dụng thường xuyên.

Ý nghĩa nổi bật nhất là chủ động chuỗi cung ứng trong nước. Khi xung đột địa chính trị, vận tải biển gián đoạn hoặc kiểm soát xuất khẩu gia tăng, nhiên liệu quân sự có thể trở thành mặt hàng khó tiếp cận. Sản xuất tại Dung Quất giúp rút ngắn thời gian cung ứng, giảm rủi ro tỷ giá, vận chuyển, bảo hiểm và tăng khả năng đáp ứng cho huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, dự trữ quốc phòng.
Theo BSR, kinh phí nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật khoảng 25,7 tỷ đồng, trong khi doanh thu từ các sản phẩm đạt 4.058,9 tỷ đồng. Tự sản xuất trong nước giúp Bộ Quốc phòng tiết kiệm 15-20% so với nhập khẩu, tương đương 610-810 tỷ đồng. Giá trị lớn hơn nằm ở việc hình thành năng lực sản xuất chiến lược mà thị trường khó định giá đầy đủ.

Với chi phí nghiên cứu và cải tiến khoảng 25,7 tỷ đồng, công trình đã tạo doanh thu hơn 4.058 tỷ đồng. Nguồn nhiên liệu sản xuất trong nước giúp tiết kiệm 15-20% so với nhập khẩu, tương đương 610-810 tỷ đồng cho ngân sách quốc phòng. Quan trọng hơn, Việt Nam giảm đáng kể rủi ro tỷ giá, vận chuyển, bảo hiểm và gián đoạn nguồn cung trong những tình huống quốc tế bất ổn.
Từ sản phẩm đặc chủng đến năng lực công nghiệp lưỡng dụng
Thành công của BSR cho thấy khoa học công nghệ chỉ tạo ra sức mạnh khi được tích hợp vào sản xuất công nghiệp. Thay vì xây dựng hệ thống tách biệt, đội ngũ kỹ sư cải tiến cấu hình hiện hữu, lựa chọn nguyên liệu, điều chỉnh vận hành và kiểm soát chất lượng để tạo sản phẩm đặc chủng. Cách làm này tận dụng tài sản sẵn có, tiết kiệm vốn và vẫn bảo đảm nguồn xăng dầu cho nền kinh tế.
Đây là mô hình tiêu biểu của công nghệ lưỡng dụng: nghiên cứu phục vụ quốc phòng đồng thời nâng trình độ quản trị công nghệ, phòng thí nghiệm, kiểm soát chất lượng và phát triển sản phẩm mới. Những năng lực ấy có thể hỗ trợ BSR nghiên cứu nhiên liệu hàng không bền vững, nhiên liệu sinh học và các sản phẩm phát thải thấp.

Để duy trì lợi thế, BSR cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn, theo dõi chất lượng trong quá trình bảo quản, cập nhật yêu cầu kỹ thuật của trang bị mới và xây dựng cơ chế phối hợp dài hạn với Bộ Quốc phòng, Petrovietnam cùng các cơ quan khoa học. Hệ thống dự trữ, logistics chuyên biệt và kế hoạch chuyển đổi sản xuất khẩn cấp cũng cần được tích hợp với phương án bảo đảm nguồn cung quốc gia.
Dự án Nâng cấp mở rộng NMLD Dung Quất sẽ nâng độ linh hoạt nguyên liệu, chất lượng sản phẩm và quy mô chế biến. Nếu kinh nghiệm sản xuất nhiên liệu đặc chủng được tích hợp vào thiết kế, vận hành và chuỗi cung ứng của cấu hình mới, nhà máy có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu dân dụng, dự trữ chiến lược và nhiệm vụ đặc biệt.
Tự chủ nhiên liệu quốc phòng không chỉ là thay thế hàng nhập khẩu mà là khả năng duy trì sức mạnh quốc phòng bằng nền tảng khoa học, công nghiệp và năng lượng trong nước. Từ Dung Quất, BSR chứng minh một công trình nghiên cứu bài bản có thể chuyển hóa thành sản phẩm chiến lược, hiệu quả kinh tế và năng lực ứng phó quốc gia. Thành quả ấy củng cố thế chủ động từ sớm, từ xa và mở rộng vai trò của ngành lọc hóa dầu Việt Nam.